<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-6171194795727795119</id><updated>2011-07-14T09:48:58.027+07:00</updated><title type='text'>Web Giao luu cua nhung nguoi cung thoi -- LE TIEN CONG</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://tranxuanan-giaoluu-nnct-letiencong.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6171194795727795119/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranxuanan-giaoluu-nnct-letiencong.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Web. Giao luu cua nhung nguoi cung thoi</name><uri>http://www.blogger.com/profile/06222300160977315036</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://photos1.blogger.com/blogger2/3830/175921985080683/1600/1-But_TXA_tiengViet_lacay.jpg'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>3</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6171194795727795119.post-7688218071265310675</id><published>2007-02-19T10:20:00.000+07:00</published><updated>2007-02-19T10:20:26.678+07:00</updated><title type='text'>LÊ TIẾN CÔNG -- MỘT THỜI THƠ</title><content type='html'>&lt;strong&gt;LÊ TIẾN CÔNG&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;span style="color:#cc33cc;"&gt;MỘT THỜI THƠ&lt;/span&gt;&lt;/em&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;THƯ GỬI BẠN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;(cho Thu Hương, Thái Nguyên)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thư gửi bạn quê mình đă mùa đông&lt;br /&gt;Băi cát bồi đám dế mèn cư trú&lt;br /&gt;Màu hoa vàng suốt một mùa chưa ngủ&lt;br /&gt;Phải chăng vì cơn gió lạnh về đêm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quê mình nghèo những đứa trẻ lấm lem&lt;br /&gt;Vạt áo mỏng co ro bên bậc cửa&lt;br /&gt;Đêm chưa ngủ ra ngồi bên bếp lửa&lt;br /&gt;Hơ bàn tay chưa đủ ấm trong lòng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thư gửi bạn quê mình đă mùa đông&lt;br /&gt;Lá thư nhỏ nối khoảng trời xa cách&lt;br /&gt;Chốn thành đô lá thư làm người khách&lt;br /&gt;Con tem hồng chở theo cả quê hương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Mùa đông, 1997&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TRĂNG QUÊ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;trăng xa&lt;br /&gt;ai kéo xuống gần&lt;br /&gt;sáng soi quê mẹ&lt;br /&gt;đầy sân óng vàng&lt;br /&gt;đầu vườn thoảng hương ngọc lan&lt;br /&gt;soi lên nỗi nhớ và ngàn ư thơ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Hạ, 1996&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;MƯA QUÊ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giọt mưa cho lá xanh cây&lt;br /&gt;Mưa từ đồng nội mưa rây đến nguồn&lt;br /&gt;Mưa quê thấm ướt cánh buồm&lt;br /&gt;Con trăng chở cả nỗi buồn theo sông&lt;br /&gt;Cau già bạn với trầu không&lt;br /&gt;Đắng cay trộn lẫn mặn nồng thành đôi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Hạ, 1996&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;THƠ VUI CHO CÁC NGÀY TRONG NĂM&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thứ nhất là ngày sinh nhật&lt;br /&gt;Ta đèo em đi ăn kem&lt;br /&gt;Em và ta đều rất thật&lt;br /&gt;Không như cái hồi mới quen&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi valentin, rồi nữa&lt;br /&gt;Một thoáng mồng tám tháng ba&lt;br /&gt;Em đă trở thành một nửa&lt;br /&gt;Bấy giờ ta đă tặng hoa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;20-10 cũng tới&lt;br /&gt;20-11 đâu xa&lt;br /&gt;Rồi Noel, rồi xuân mới&lt;br /&gt;Làm sao có thể “bỏ qua”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bây giờ thì ta đă có&lt;br /&gt;Các ngày hành động trong năm&lt;br /&gt;Đường đi dài đường đi khó&lt;br /&gt;Vô tư - trăng khuyết lại rằm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Mùa xuân, 2001&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LẶNG THẦM&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;tặng Đông Huy, QHH.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lặng thầm&lt;br /&gt;Rồi vẫn lặng thầm&lt;br /&gt;Một lời nói măi&lt;br /&gt;Thành câm một lời&lt;br /&gt;Một lời…&lt;br /&gt;Hoá một con người&lt;br /&gt;Một lời…&lt;br /&gt;Cũng hoá một tôi dại khờ !&lt;br /&gt;Trở về gom những vu vơ&lt;br /&gt;Không yêu thì cũng… giả vờ rằng yêu&lt;br /&gt;Thế là qua hết những chiều&lt;br /&gt;Cầu hôn chiếc lá phiêu diêu úa vàng.&lt;br /&gt;Giật mình một bóng Hoàng Lan&lt;br /&gt;Hoàng hôn ru gió vắng bàn chân ai&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Mùa đông, 1999&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;MƠ VỀ QUÊ MẸ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có những lần mơ trở về thăm&lt;br /&gt;Ngôi nhà nhỏ thân quen ngày trước&lt;br /&gt;Cầu ao cũ vẫn xanh màu nước&lt;br /&gt;Hoa mướp vàng cuối vụ đong đưa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có bao điều rất khác ngày xưa&lt;br /&gt;Con thăm hết vườn cây ao cá&lt;br /&gt;Tìm vết xưa bên đồi sỏi đá&lt;br /&gt;Mà bây giờ cây cỏ đă xanh tươi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có ǵ trên lưng áo bạc cha tôi ?&lt;br /&gt;Bởi vị mặn mồ hôi, bởi mang màu năm tháng&lt;br /&gt;Ngày lại ngày chăm lo đồng áng&lt;br /&gt;Dáng cha gầy, giọng nói cũng gầy hơn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để đong đầy những bát cơm ngon&lt;br /&gt;Hạt lúa đă đau nhiều công đoạn&lt;br /&gt;Con biết năm nay trời lại hạn&lt;br /&gt;Lúa nhà mình thu hoạch chẳng bao nhiêu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mẹ viết thư nhắc nhỏ bao điều&lt;br /&gt;Con vào đó lo mà ăn học&lt;br /&gt;Nhìn dòng chữ mà con bật khóc&lt;br /&gt;Nó hiện hình bóng dáng mẹ, mẹ ơi !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mẹ ! mẹ ơi xa tít tận chân trời !&lt;br /&gt;Con sống giữa phồn hoa đô thị&lt;br /&gt;Nhưng có bao giờ con không nghĩ&lt;br /&gt;Về miền quê có dáng mẹ tảo tần&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sinh viên nghèo tiêu gì cũng phân vân&lt;br /&gt;Phố ồn ào con sống càng lặng lẽ&lt;br /&gt;Có những lần mơ về bên mẹ&lt;br /&gt;Muốn về thăm nhưng túi rỗng không tiền&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đă đi vào năm tháng sinh viên&lt;br /&gt;Con biết sống với những gì có thể&lt;br /&gt;Được sinh ra giữa đường cày gốc lúa&lt;br /&gt;Nghiệp sách đèn con biết lắm gian nan&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Năm tháng đầu thời sinh viên, 1998&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;XUÂN TÌNH&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mỗi mỗi mùa xuân một người tình&lt;br /&gt;Mà sao nay vẫn một minh trơ vơ&lt;br /&gt;Em đi qua để tôi chờ&lt;br /&gt;Cái nhìn hôm ấy để ngờ trong tôi&lt;br /&gt;Trở về chở đá nung vôi&lt;br /&gt;Trồng trầu, chăn lá thế rồi hôm nay&lt;br /&gt;Ai ngờ áo cưới em bay&lt;br /&gt;Em đi để lại đắng cay tôi cầm&lt;br /&gt;Vời vợi ánh mắt xa xăm&lt;br /&gt;Cái nhìn năm cũ âm thầm vào thơ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Xuân, 2001&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LỤC BÁT MÙA XUÂN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi gieo lục bát vào mùa&lt;br /&gt;Em yêu lục bát ngày chưa có chồng&lt;br /&gt;Lạnh như nỗi nhớ mùa đông&lt;br /&gt;Ta ngồi bên một khúc sông lở bồi&lt;br /&gt;Cái ngày em bước qua tôi&lt;br /&gt;Mắt buồn chẳng nói như hồi gặp nhau&lt;br /&gt;Ta thành diệu vợi buồn đau&lt;br /&gt;Tình đầu biết có nhạt màu tháng năm&lt;br /&gt;Nhớ nhiều nhưng chẳng về thăm&lt;br /&gt;Buông câu lục bát xa xăm một thời&lt;br /&gt;Đón xuân ở giữa quê người&lt;br /&gt;Vẫn là lục bát như hồi gặp nhau&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Xuân, 2001&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GỬI HÀ NỘI VÀ ANH&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;tặng anh Trọng Đạt&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Anh gửi Huế chút heo may Hà Nội&lt;br /&gt;Huế bây giờ chưa lạnh đâu anh&lt;br /&gt;Có phải chăng Huế còn mải đợi&lt;br /&gt;Áo trắng ai về dưới vòm xanh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ừ, Hà thành không phải quê anh&lt;br /&gt;Huế cổ kính với em còn xa lạ&lt;br /&gt;Cũng như anh đă sống là tất cả&lt;br /&gt;Hết lòng mình dẫu không phải quê hương&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sao bấy lâu anh đành lỗi hẹn ?&lt;br /&gt;Để minh em lạc lõng giữa cố đô&lt;br /&gt;Yêu thương ơi có bao giờ trọn vẹn&lt;br /&gt;Chiều Hương giang sao gợn sóng Tây hồ !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Thu 2000&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LỜI MẸ DẶN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đi học về con đi chợ nấu cơm&lt;br /&gt;No đói gì đời sinh viên là thế&lt;br /&gt;Những bát cơm giữa lòng thành phố&lt;br /&gt;Bao vui buồn con lại nhớ mẹ hơn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đi học về con đi chợ nấu cơm&lt;br /&gt;Nhớ mẹ dặn ăn đủ ngày ba bữa&lt;br /&gt;Bàn học mùa đông đừng kê sát cửa&lt;br /&gt;Lúc ra ngoài nhớ áo ấm, quàng khăn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày ở nhà buổi sáng ép con ăn&lt;br /&gt;Chiều trở gió mẹ cứ lo con lạnh&lt;br /&gt;Con đi xa mang theo lời mẹ dặn&lt;br /&gt;Mà vui buồn ấm hơi khói đồng quê.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Mùa đông 2001&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;NÓI VỚI EM&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Em đừng tin lời tôi trong thơ&lt;br /&gt;Dẫu thơ viết cho em, tặng em hay chăng nữa&lt;br /&gt;Phượng rất hồng nhưng không là ngon lửa&lt;br /&gt;Tuy có lần thắp lửa trong em&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phượng sẽ hết và em sẽ quên&lt;br /&gt;Cả thơ tôi một thời in dấu&lt;br /&gt;Cả đời hoa tím hoang bờ giậu&lt;br /&gt;Viết cho em và mong được em yêu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Em đừng tin mặc thơ nói bao nhiêu&lt;br /&gt;Em sẽ hiểu, ngày mai thôi em nhé&lt;br /&gt;Đừng trách tôi sao anh khó hiểu thế&lt;br /&gt;Bởi chính tôi còn không hiểu dược tôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Em đừng tin ... và chỉ có thế thôi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;1999&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;THƠ TÌNH VUI KHOA HỌC&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trái đất nghiêng 23,5&lt;br /&gt;Ta nghiêng vào nhau bao nhiêu em nhỉ ?&lt;br /&gt;Lạc lối Côlômbô tìm ra châu Mỹ&lt;br /&gt;Ta bàng hoàng trong văn hoá Phục hưng&lt;br /&gt;Parabol cong đến vô cùng&lt;br /&gt;Em – Nam châm hút anh từng hơi thở&lt;br /&gt;Chất xúc tác lâu bền khó vỡ&lt;br /&gt;Sẽ đợi ngày kết tủa trong nhau&lt;br /&gt;Vật chất tinh thần quyết định ở nơi đâu ?&lt;br /&gt;Ơi hai mặt của vấn đề cơ bản&lt;br /&gt;Biết tình yêu không phải là chứng khoán&lt;br /&gt;Nên vẫn cần điều luật phải không em ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;2003&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TÌNH CŨ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Em đi tìm lại ngày xưa&lt;br /&gt;Gặp tôi đi với nhặt thưa nỗi sầu&lt;br /&gt;Ai nào có trách ai đâu&lt;br /&gt;Tự dưng lại đổ cơn ngâu nhạt nhoà&lt;br /&gt;Tháng ngày thương nhớ đi qua&lt;br /&gt;Cho em, cho cả chúng ta hiểu mình&lt;br /&gt;Em mua hoa để cắm bình&lt;br /&gt;Em mua hoa gợi chuyện tình ngày xưa ?&lt;br /&gt;Bây giờ cải đă thành dưa&lt;br /&gt;Đò giang đă trải nắng mưa cuộc đời&lt;br /&gt;Còn mang thân phận con người&lt;br /&gt;Thì ta còn bị lẽ đời buộc ta&lt;br /&gt;Ngày sau thoát khỏi thiên hà&lt;br /&gt;Ta đi say với bài ca của ḿnh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;1999&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;MỰC TÍM MỒNG TƠI&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;vở xưa&lt;br /&gt;tím mực mồng tơi&lt;br /&gt;mồng tơi tím&lt;br /&gt;tím ngàn lời tuổi thơ&lt;br /&gt;qua rồi mới đứng ngẩn ngơ&lt;br /&gt;mồng tơi, mực tím…&lt;br /&gt;bây giờ nhạt phai ?&lt;br /&gt;bài thơ ta viết tặng ai&lt;br /&gt;câu bỏ lửng&lt;br /&gt;câu lại dài làm sao&lt;br /&gt;thôn quê mấy nhịp cầu ao&lt;br /&gt;qua bên em một lời chào …&lt;br /&gt;ngày mơ !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Xuân 1997&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;THẦN TƯỢNG VỠ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi một ngày thần tượng vỡ vì yêu&lt;br /&gt;Em bối rối trong phút giây ngờ vực&lt;br /&gt;Rồi em hiểu đắng cay và hạnh phúc&lt;br /&gt;Phải vươn lên để tồn tại trên đời&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con thuyền trôi về phía chân trời&lt;br /&gt;Trách gì gió ngút ngàn xô đẩy&lt;br /&gt;Chẳng biết cho một ngày mai ấy&lt;br /&gt;Thuyền về đâu và gió về đâu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuộc sống vốn bắt nguồn từ bùn nâu&lt;br /&gt;Và tình yêu cũng sinh sôi từ đấy&lt;br /&gt;Nhưng tình yêu thì bao giờ cũng vậy&lt;br /&gt;Riêng cuộc đời thay đổi biết bao nhiêu&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi một ngày thần tượng vỡ vì yêu&lt;br /&gt;Xa xôi qúa để bây giờ thương nhớ&lt;br /&gt;Kỳ vọng qúa em ghép từng mảnh vỡ&lt;br /&gt;Tạo thành hình của một trái tim xuân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;12/1999&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;THU&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mùa thu lá nhớ lang thang&lt;br /&gt;Em về hứng chút nắng vàng nhẹ tênh&lt;br /&gt;Ngỡ là ngọn gió ngông nghênh&lt;br /&gt;Thổi không biết mệt chênh vênh cánh diều&lt;br /&gt;Thế là có một tình yêu&lt;br /&gt;Khác hơn tất cả những chiều đă qua&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;MAI XA RỒI&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mai xa rồi sẽ chẳng gặp lại nhau&lt;br /&gt;Đất trung du một lần gặp gỡ&lt;br /&gt;Phút ban đầu chưa nguôi bỡ ngỡ&lt;br /&gt;Mai xa rồi sẽ chẳng gặp lại nhau&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mai xa rồi tìm em nơi đâu&lt;br /&gt;Thoảng nỗi nhớ trong màu hoa đỏ&lt;br /&gt;Em - Thái Bình bạt ngàn hương lúa&lt;br /&gt;Anh Sông Lam - Hồng Lĩnh bao mùa…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xa nhau rồi câu hát nhặt thưa&lt;br /&gt;Ta thấu hiểu điều chưa từng tới&lt;br /&gt;Tiễn em đi bao lời không nói&lt;br /&gt;Em đi rồi gác trọ mình anh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Thái Nguyên mùa thi, 1998&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;NỖI LÒNG TỰ HÁT&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và cuối cùng anh cũng phải xa em&lt;br /&gt;Phố cổ kính với anh còn xa lạ&lt;br /&gt;Phố đông người anh càng cô đơn quá&lt;br /&gt;Không lúc nào anh không nhớ đến em&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Anh một mình đối diện với bóng đêm&lt;br /&gt;Gác trọ lạnh bởi hơi người cũng lạnh&lt;br /&gt;Đọc lại câu thơ thấy lòng cô quạnh&lt;br /&gt;Anh một lần đi với phố lang thang&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phố về đêm sáng ánh đèn vàng&lt;br /&gt;Anh đi dưới hàng cây tối sẫm&lt;br /&gt;Mơ tiếng guốc thấy sao lòng ngớ ngẩn&lt;br /&gt;Thêm một lần trở lại với cô đơn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhớ về em yêu mến giận hờn&lt;br /&gt;Nhớ về em buổi chia tay không nói&lt;br /&gt;Anh phải ra đi chuyến tàu không đợi&lt;br /&gt;Vẫy tay chào bóng nhỏ cuối chiều xa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phố Huế nổi tiếng trong thơ ca&lt;br /&gt;Nhưng anh viết cho em với bao điều rất khác&lt;br /&gt;Vì thơ anh là nỗi lòng tự hát&lt;br /&gt;Hát về em và chỉ với em thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TÌNH YÊU NGỌN NẾN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;tặng em cây nến làm quà&lt;br /&gt;đốt lên sưởi ấm…&lt;br /&gt;ngày xa vô cùng&lt;br /&gt;nhặt thưa…&lt;br /&gt;một nỗi sầu chung&lt;br /&gt;từng giọt vỡ…&lt;br /&gt;từng giọt từng…&lt;br /&gt;nến ơi&lt;br /&gt;đốt lên để thấy con người&lt;br /&gt;nghe trong hơi thở cháy lời tình yêu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;CHÚT GIẬN HỜN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;một chút giận hờn vô cớ&lt;br /&gt;em đi về phía cơn mưa&lt;br /&gt;chẳng biết rằng ai có lỗi&lt;br /&gt;có nói ra cũng hoá thừa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;mỗi người đi về mỗi ngă&lt;br /&gt;nghĩ rằng mình hiểu nhau hơn&lt;br /&gt;con tim không là gỗ đá&lt;br /&gt;làm sao chia nửa tâm hồn !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;thôi thì mai này gặp lại&lt;br /&gt;thấy em ta nở nụ cười&lt;br /&gt;nắm tay giận hờn chi măi&lt;br /&gt;đường về hai đứa chung đôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;VIẾT THƯ VỀ CHO MẸ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;viết thư về cho mẹ&lt;br /&gt;Huế mưa ướt nỗi buồn&lt;br /&gt;một mình trong giác trọ&lt;br /&gt;nhớ quê nhà nhiều hơn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;quê hương giờ xa lắc&lt;br /&gt;hoa cúc có nở vàng&lt;br /&gt;dân làng mình còn nhắc&lt;br /&gt;người hàng xóm có sang ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;quê hương giờ rơm rạ&lt;br /&gt;chất đầy sân đầy đường&lt;br /&gt;mẹ cha mình vất vả&lt;br /&gt;gửi con hết tiền lương&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;giữa đông người phố thị&lt;br /&gt;sao thấy mình cô đơn&lt;br /&gt;viết thư về cho mẹ&lt;br /&gt;Huế mưa ướt nỗi buồn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;QUA NHÀ TRỌ CŨ&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngang qua nhà trọ cũ&lt;br /&gt;Thương phận sinh viên nghèo&lt;br /&gt;Tháng năm nào trú ngụ&lt;br /&gt;Một gian nhà gầy teo…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm thằng chung một chiếu&lt;br /&gt;Nên không được nằm co&lt;br /&gt;Nửa đêm mái tôn dột&lt;br /&gt;Nhặt thưa ḿnh co ro&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bỗng dưng nguời ta bán&lt;br /&gt;Mảnh đất ấy, gian nhà…&lt;br /&gt;Mấy đứa nhìn nhau bảo&lt;br /&gt;Nhà trọ! tiền đâu ra ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến hôm nay trở lại&lt;br /&gt;Đất cũ – nhà mới xây&lt;br /&gt;Ngước nhìn mà ái ngại&lt;br /&gt;Cho một thời nơi đây&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ơi tháng năm trú trọ&lt;br /&gt;Thương phận sinh viên nghèo&lt;br /&gt;Đến bao ngày sau nữa&lt;br /&gt;Nhớ bước đường rong rêu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LANG THANG MÙA XUÂN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lang thang chiều nay một lối&lt;br /&gt;Bước chân qua những hàng cây&lt;br /&gt;Thị thành ai còn đứng đợi&lt;br /&gt;Ngọc Lan hương lá vơi đầy ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sông xưa chiều nay vội vă&lt;br /&gt;Lục bình soi xuống nỗi buồn&lt;br /&gt;Gió đùa tung vài chiếc lá&lt;br /&gt;Nhớ về cũng bỏ đi luôn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bằng lăng không còn tím nữa&lt;br /&gt;Áo em vẫn đẫm hoàng hôn&lt;br /&gt;Ngập ngừng mùa xuân gơ cửa&lt;br /&gt;Bước chân phố thị bồn chồn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;XUÂN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;(viết tiếp lời Trương Thị Giàu)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Ôm vần lục bát đi hoang&lt;br /&gt;Trên từng cây số dọc ngang cuộc đời&lt;br /&gt;Từ xa nghe tiếng xuân cười&lt;br /&gt;Lang thang trên chuyến xe đời tím xuân...”&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Biết là gặp được nhau không&lt;br /&gt;Phải chăng cứ độ cuối đông đă là…&lt;br /&gt;Ta về đứng cuối đường xa&lt;br /&gt;Đón xuân chẳng thấy xuân qua… thẫn thờ&lt;br /&gt;Gom vần lục bát thành thơ&lt;br /&gt;Ta đem trang trải đôi bờ buồn vui&lt;br /&gt;Từ xa nghe tiếng xuân cười&lt;br /&gt;Không xuân thì cũng là người mùa xuân&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;2001&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;RA ĐI MÙA ĐÔNG&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;(bài này do Công, Liêm, Lưỡng và thầy Hà Văn Thịnh&lt;br /&gt;cùng viết trong một lần ngẫu hứng, 1999)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi anh sẽ ra đi – mùa đông&lt;br /&gt;Nghe gió rít sau lưng ḿnh buốt giá &lt;em&gt;(Công)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Môi em run làm đời anh khác lạ &lt;em&gt;(Hà Văn Thinh)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Kỷ niệm xưa còn nữa hay không? &lt;em&gt;(Liêm)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Noel này anh vẫn ngóng trông &lt;em&gt;(Lưỡng)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Chờ em măi chờ hoài sao chẳng thấy &lt;em&gt;(Liêm)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Anh cô đơn giữa dòng đời cuộn chảy &lt;em&gt;(Hà Văn Thịnh)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;Gặp em rồi sao nỡ để mất em! &lt;em&gt;(Lưỡng)&lt;/em&gt;.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;LÝ LẼ TRÁI TIM&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đừng buộc tôi nói lên điều lý sự&lt;br /&gt;Nơi con sông đâu chỉ có sa bồi&lt;br /&gt;Sự bùng cháy đâu chỉ riêng ngọn lửa&lt;br /&gt;Lý trí nào thắng được trái tim tôi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có những điều ta hiểu với nhau thôi&lt;br /&gt;Cái chân thật đời thường ai cũng có&lt;br /&gt;Tôi từng ước chuyện tình như hoa đỏ&lt;br /&gt;Cháy hết mình mà không thể thờ ơ....&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Triết lý nhiều rồi cũng lúc ngẩn ngơ&lt;br /&gt;Điều hôm ấy đâu đă là sự thật&lt;br /&gt;Hăy xem tôi như một tên hành khất&lt;br /&gt;Hôm nay còn mà không biết ngày mai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;1999&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;THƠ CHO NGƯỜI&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;tặng Lưỡng&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi em quay gót lạnh lùng&lt;br /&gt;Là ta tuột đến tận cùng nỗi đau&lt;br /&gt;Trót đời đă biết đến nhau&lt;br /&gt;Tình yêu vô tội nát nhàu miền thương&lt;br /&gt;Đă không chung một con đường&lt;br /&gt;Thôi đành yêu lấy vết thương tim mình&lt;br /&gt;Em đi về phía bình minh&lt;br /&gt;Tôi về cả giỡ mỗi tình hoàng hôn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;5.2000&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;CÙNG ANH&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Anh sẽ nhận ra tình sau những gian truân&lt;br /&gt;Mới biết cuộc đời không phải là màu tím&lt;br /&gt;Khi đưa tay vin một cành quả chín&lt;br /&gt;Đừng tự trách mình nếu vin phải cành gai.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Họ đă chẳng giúp mình anh cũng chớ trách ai&lt;br /&gt;Bởi họ cũng là CON NGƯỜI rất thật&lt;br /&gt;Những hạt mưa vỡ tan vì mặt đất&lt;br /&gt;Vẫn hết mình cho cây cỏ xanh tươi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi một ngày anh sẽ nhận ra thôi&lt;br /&gt;Anh sẽ chẳng trách tôi cứ như đùa như thật&lt;br /&gt;Tấm ván ngắn bắc ngang tấm ván dài bắc dọc&lt;br /&gt;Chưa bước qua cầu chưa hiểu nỗi gian truân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;CÓ KHI&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng có khi bó gối lặng yên&lt;br /&gt;Ta bình thản giữa bạt ngàn sóng vỗ&lt;br /&gt;Giữa lặng yên còn chút gì để nhớ&lt;br /&gt;Cái yên lành của mười tám đôi mươi…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng có khi ta thả bước rong chơi&lt;br /&gt;Rồi để quên dấu chân ḿnh trên cát&lt;br /&gt;Ta thầm nhớ một lời xưa em hát&lt;br /&gt;“biển một bên và em một bên…”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng có khi ao ước khoảng trời riêng&lt;br /&gt;Một thế giới chỉ hai người chung sống&lt;br /&gt;Một tình yêu không giàu sang hoa gấm&lt;br /&gt;Thật thắm tình và không thể cách chia&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;8.2000&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TÔI VÀ EM&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Em cả nghĩ về hoa Tigôn&lt;br /&gt;Kể chuyện tình hai người dang dở&lt;br /&gt;Câu chuyện về dòng sông bồi lở&lt;br /&gt;Người ra đi năm tháng chẳng quay về…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Em âm trầm tựa nhánh sông quê&lt;br /&gt;Thả nỗi nhớ lục bình chiều tím&lt;br /&gt;Tôi và em không lời ước hẹn&lt;br /&gt;Mà sao mình vẫn đến bên nhau&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rồi mai này sẽ đi về đâu&lt;br /&gt;Ai sẽ chọn tình yêu - sự nghiệp ?&lt;br /&gt;Câu trả lời chỉ tình yêu mới biết…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;10.10.2000&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;CÁNH BẰNG LĂNG&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có con đường tím hoa Bằng Lăng&lt;br /&gt;Tôi đă hái tặng em ngày ấy&lt;br /&gt;Nụ hoa tươi em vô tư là vậy&lt;br /&gt;Cánh Bằng Lăng ơi cánh Bằng Lăng !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mùa hạ qua rồi em hỡi biết chăng&lt;br /&gt;Trên phố bao mùa mà màu hoa vẫn tím&lt;br /&gt;Tôi lại về đây phải đâu là chốn hẹn&lt;br /&gt;Sao vẫn chờ vẫn đợi bóng ai qua&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sao vẫn chờ vẫn đợi một màu hoa ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;CHO HÀ NỘI&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;tặng Được và chị Dương&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không nghĩ rằng lại gặp chị nơi đây&lt;br /&gt;Hà Nội khoác trên vai chiếc ba lô con cóc&lt;br /&gt;Cặp kính vô tư như “cô trò trung học”&lt;br /&gt;Phút ngỡ ngàng khi nhận ra nhau&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lá thư xa như những nghịp cầu&lt;br /&gt;Những vòm cong phủ mờ con đường thẳng&lt;br /&gt;Này Hà Nội cớ sao giờ im lặng&lt;br /&gt;Gờn gợn Tây Hồ pha lẫn sóng Hương giang...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Huế đâu buồn đến em phải đa mang&lt;br /&gt;Sao thư viết những chuyện buồn đến thế&lt;br /&gt;Lá Diêu Bông chỉ là trong chuyện kể&lt;br /&gt;Hoàng Cầm ơi đă trót lỡ tin rồi&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HỘI AN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rõ ràng ta thấy phố rêu phong&lt;br /&gt;Đến không thể bước nhanh sợ lòng mình trượt ngă&lt;br /&gt;Phố Hội ơi dẫu không là tất cả&lt;br /&gt;Thì vẫn là hình bóng của ngày xưa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ơi này em em có biết răng chừ ?&lt;br /&gt;Ta hỏi đó cớ sao em im lặng&lt;br /&gt;(ừ nhỉ em một miền đất Quảng&lt;br /&gt;ta hỏi thật nhiều em có nghe đâu) !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Em dẫn ta qua dưới mái chùa Cầu&lt;br /&gt;Đi qua những con đường, những ngôi nhà bao tuổi&lt;br /&gt;Những đèn lồng sáng đêm phố Hội&lt;br /&gt;Được xem bài Chòi, hát Bội, nghe thơ…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đêm đi sâu sâu đến không ngờ&lt;br /&gt;Chỉ mắt phố là đường như không ngủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;6.2001&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;BÊN TRƯỜNG TIỀN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dựa lưng vào Trường Tiền&lt;br /&gt;Nhìn dòng Hương trôi măi&lt;br /&gt;Ai ví dòng sông xanh&lt;br /&gt;Như tóc thề con gái…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Con đường thành xa ngái&lt;br /&gt;Bởi lắm lúc quẩn quanh&lt;br /&gt;Lang thang hoài trên phố&lt;br /&gt;Hoá rêu phong tường thành&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người đi còn trở lại&lt;br /&gt;Huế mình ta ngẩn ngơ&lt;br /&gt;Vị cà phê đắng măi&lt;br /&gt;Chẳng trách ai hững hờ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;&lt;strong&gt;thơ của LÊ TIẾN CÔNG&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;(Tạp chí Huế Xưa &amp; Nay)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Gửi ngày &amp;amp; giờ: “Wed, 18 May 2005 03:00:49 - 0700 (PDT)”&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đưa lên web Giao lưu: 18-02 HB7 (2007)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:85%;color:#ff0000;"&gt;Điều chỉnh hình thức trình bày trên trang web: 10 giờ 06', thứ nhất (thứ hai cũ), ngày 19-02 HB7&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6171194795727795119-7688218071265310675?l=tranxuanan-giaoluu-nnct-letiencong.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6171194795727795119/posts/default/7688218071265310675'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6171194795727795119/posts/default/7688218071265310675'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranxuanan-giaoluu-nnct-letiencong.blogspot.com/2007/02/l-tin-cng-mt-thi-th.html' title='LÊ TIẾN CÔNG -- MỘT THỜI THƠ'/><author><name>Web. Giao luu cua nhung nguoi cung thoi</name><uri>http://www.blogger.com/profile/06222300160977315036</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://photos1.blogger.com/blogger2/3830/175921985080683/1600/1-But_TXA_tiengViet_lacay.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6171194795727795119.post-2086534474586933937</id><published>2007-02-19T10:00:00.000+07:00</published><updated>2007-02-19T10:00:41.346+07:00</updated><title type='text'>LÊ TIẾN CÔNG - Luận văn thạc sĩ HB6 (2006) -- 2</title><content type='html'>LUẬN VĂN THẠC SĨ&lt;br /&gt;(bảo vệ tại Đại học Khoa học Huế, tháng 10 HB6 [2006])&lt;br /&gt;của LÊ TIẾN CÔNG&lt;br /&gt;(hiện công tác tại Tạp chí Huế Xưa &amp; Nay)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;“Tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển&lt;br /&gt;các tỉnh miền Trung&lt;br /&gt;dưới triều Nguyễn:&lt;br /&gt;thời kì 1802-1858”&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Tiếp theo phần 1)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;- Quảng Ngãi&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chính sử triều Nguyễn chép về tấn biển Quảng Ngãi có nói đến tấn Thái Cần, Sa Kỳ, Đại Cổ Lũy, Mỹ Ý, Sa Huỳnh đều là những cửa tấn quan trọng trong tỉnh, lại có nhiều gềnh đá nên phần nhiều tàu thuyền lớn không vào được, nhà Nguyễn có đặt thủ sở trông coi và “lấy dân phụ lũy sung vào việc trú phòng” tại đây. Riêng tấn Lí Sơn “ở giữa biển, thuộc hải phận huyện Bình Sơn, đối ngạn với tấn Sa Kì, có đặt đồn sở để phòng ngự giặc biển” [90, 432-434].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc chia đặt lực lượng canh giữ được bố trí: hai tấn Mỹ Ý, Sa Huỳnh mỗi tấn tấn thủ 1 viên, thừa biện 1 viên, thuộc lệ 8 tên. Xứ Lý Sơn (Cù Lao Ré) phòng thủ úy 1 viên, thừa biện 1 viên. Gia Long năm thứ 5 định: 4 tấn Mỹ Ý, Thái Cần, Sa Kỳ, Đại Cổ Lũy mỗi tấn thuộc lệ 10 tên [74, 666]. Năm 1850, vua Tự Đức chuẩn: 6 tấn Thái Cần, Sa Kỳ, Đại Cổ Lũy, Mĩ Ý, Sa Huỳnh, Lý Sơn thuộc hạt tỉnh, nguyên lệ đều đặt 1 viên phòng thủ úy, hoặc tấn thủ, đều phải phòng thủ như cũ. [74, 669].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quảng Ngãi là tỉnh có nhiều đảo và quần đảo quan trọng nên rất được nhà nước quan tâm bố phòng. Việc thăm dò, đưa dân đinh ra đảo đánh cá, sinh sống, khai thác và khẳng định chủ quyền, đặt đồn canh phòng đã có từ thời các chúa Nguyễn và được tiếp tục sau đó. &lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; chép như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Cù Lao Ré (Lí): ở giữa biển, cách huyện Bình Sơn 65 dặm về phía đông; xung quanh nổi cao, ở giữa trũng xuống ước mấy chục mẫu, nhân dân hai phường Vĩnh An và An Hải ở tại đấy. Phía đông đảo có động, có chùa mấy gian, có giường đá, kỉ đá, hai bên hữu động có giếng, nước trong ngọt, xung quanh cây cối tốt tươi, khi có giặc biển thì dân phường ẩn núp ở đấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Đảo Hoàng Sa: ở phía đông Cùa Lao Ré huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ đi thuyền ra, thuận gió thì độ 3, 4 ngày đêm có thể đến nơi, có đến hơn 130 đảo nhỏ cách nhau hoặc một ngày đường hoặc mấy trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết hàng mấy vạn dặm, bằng phẳng, rộng rãi, tục gọi “Vạn Lý Trường Sa”.&lt;br /&gt;Hồi đầu bản triều (thời các chúa Nguyễn- tg), đặt đội Hoàng Sa, có 70 người, lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm cứ tháng 3 là ra biển tìm kiếm hải vật, đến tháng 8 thì do cửa biển Tư Hiền về nộp; lại đặt đội Bắc Hải do đội Hoàng Sa kiêm quản để đi lấy hải vật ở các đảo. Phía đông đảo Hoàng Sa gần phủ Quỳnh Châu đảo Hải Nam nước Thanh. Đầu đời Gia Long phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa, sau lại bỏ; đầu đời Minh Mạng, thường sai người đi thuyền công đến đấy thăm dò đường biển, thấy có một nơi có cồn cát trắng chu vi 1070 trượng, cây cối xanh tốt, giữa cồn cát có giếng, phía tây nam cồn có ngôi miếu cổ, không rõ dựng từ đời nào, có bia khắc bốn chữ “Vạn Lý Ba Bình” (muôn dặm sóng yên). Đảo này xưa gọi là núi Phật Tự, phía đông và phía tây đảo đều là đá san hô, mọc vòng quanh mặt nước; phía tây bắc tiếp với đá san hô nổi lên một cồn chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 2 thước, ngang với cồn cát, gọi là đá Bàn Than. Năm Minh Mạng thứ 16, sai thuyền công chở gạch đá đến đấy xây đền, dựng bia đá ở phía tả đền để ghi dấu và tra hột các thứ cây ở ba mặt tả hữu và sau” [90, 422-423].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các hoạt động tuần phòng được dân địa phương tích cực tham gia như năm 1834, quan tỉnh Quảng Ngãi tâu “Đảo (dự) Lý Sơn và vũng “thuyền”, vũng “quất” đều nên lập đồn canh, dân ở đảo Lý Sơn, tình nguyện tự đóng lấy thuyền mà lãnh khí giới của nhà vua để gặp việc đi tuần tiễu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn hai vũng kia, trước đây thường thấy thuyền giặc đi lại ngoài bể, dù có đặt súng nhưng bắn cũng không kịp. Hạ thần đã cho đóng kiểu thuyền đi lại nhẹ nhàng, nhưng người lái thuyền và thủy thủ chưa tuyển mộ được đủ. Nay xin chọn dân mới ngụ ở miền bể lập thành cánh thủy quân trong tỉnh, hàng năm mùa xuân đi tuần ngoài bể, sang mùa thu mới thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Còn như dân thuộc các cửa bể, nguyên trước không có khí giới một khi gặp thuyền giặc thời tay không không thể chống được. Nay xin theo dân số mà đặt viên “Ủy thủ” (ủy cho canh giữ) để huấn luyện việc tuần phòng”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vua giáng tờ dụ chuẩn cho hàng năm binh thuyền đầu mùa hè là phải đi tuần ngoài bể mà đến cuối mùa thu trở về, ngoài ra ưng cho như lời đã xin [94, 253-254].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;- Bình Định&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các tỉnh có cửa biển ngoài Thuận An của Thừa Thiên và Đà Nẵng của Quảng Nam thì Bình Định phần nào được quan tâm nhiều, đặc biệt là cửa biển Thị Nại, nơi từng là địa bàn tranh chấp quyết liệt của Nguyễn Ánh với quân Tây Sơn. Tuy vậy cũng phải tới năm 1840 mới đắp pháo đài và hệ thống phòng thủ ở cửa biển này. Sách &lt;em&gt;Minh Mệnh chính yếu&lt;/em&gt; cho biết, năm Minh Mạng 21 (1840), “đắp pháo đài cửa bể Thi Nại ở địa hạt Hổ Cơ thuộc tỉnh Bình Định mà đặt tên là pháo đài Hổ Cơ. Đặt mấy chục cỗ súng đại bác. Lại ở bãi cát bờ sông bên kia đặt đồn Thi Nại, sai quan tỉnh cho lính đến phòng thủ [94, 275]. Về việc này, Minh Mạng ban dụ: “cửa biển Thi Nại, nước sâu, núi cao, thuyền bè đi lại nhiều khi có đậu ở đấy, cũng là nơi xung yếu, nên công việc phòng bị tất phải chỉnh đốn. Vậy cho xây 1 pháo đài, có thể đặt được 10 cỗ đại bác. Lại cho di chuyển tấn thủ ra cư trú gần đấy, để cùng pháo đài mới đặt đấy ứng tiếp cùng nhau. Nhưng cho, tại tỉnh liệu điều 1 viên suất đội và 30 biền binh để đủ người coi giữ [74, 670].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), quan tỉnh Bình Định tâu: “chỗ đầu nguồn sông và cửa bể của tỉnh ấy là nơi xung yếu, thời trước đặt 28 đồn để canh giữ, nay xin ở khe Ly Khê thuộc về sở Trường Tân, Hương Thủy ở nguồn Phương Kiện, Thị Giã ở nguồn Hà Hổ Cơ ở cửa bể Lại Tấn, những nơi ấy ở trên đỉnh núi đều đặt thêm một đồn...”. Vua đều ưng cho [94, 234]. Đến năm 1840, tỉnh Bình Định và Phú Yên tâu xin đặt thêm một đồn đắp bằng đất ở cửa bể Thị Nại, mé ngoài đồn lại đắp lũy đất vòng quanh, trong đồn làm một ngôi nhà cho quan ở, hai ngôi nhà cho quân lính ở, để làm chỗ cư trú cho quân lính thủy và lính vệ thuộc tỉnh ấy”. Vua nghe lời tâu [94, 276].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các cửa biển An Dụ được biên chế “thừa biện và thuộc lệ đều 1 viên, Đề Di tấn thủ 1 viên, thuộc lệ 1 tên; cửa biển Thi Nại và pháo đài Thi Nại thừa biện 1 viên, suất đội trú phòng 1 viên, biền binh 30 tên”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các cửa biển không quan trọng về sau đều cho bỏ bớt tấn thủ, việc canh phòng được giao cho cửa biển quan trọng hơn gần đó. Như Tự Đức năm thứ 3 (1850), chuẩn: cửa biển tấn Kim Bồng nông hẹp, cùng tấn An Dụ cách nhau chỉ hơn 10 dặm, thì việc tuần phòng do viên tấn An Dụ làm kiêm cả. Còn viên tấn Kim Bồng thì rút về đợi bổ [74, 671].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;- Phú Yên&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt;, phần chép tấn biển Phú Yên nói đến các tấn Cù Mông, Vũng Lấm, Xuân Đài, Phú Sơn, Đà Diễn, Đà Nông [91, 75-77]. Nhưng &lt;em&gt;Hội điển&lt;/em&gt; chỉ lưu ý đến tấn Xuân Đài với biên chế thừa biện 1 viên, thuộc lệ 30 tên, Đà Nùng (Nông) thừa biện 1 viên, thuộc lệ 10 tên [74, 673]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhìn chung các tấn sở vùng Phú Yên do vị trí của nó, càng về sau việc cai quản thường là kiêm quản, bỏ bớt thủ ngự. Ví dụ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Tấn Vũng Lấm: ở hai thôn Phú Vĩnh và Tân Định, phía bắc huyện Đồng Xuân, cửa tấn rộng 380 trượng, thủy triều lên sâu 1 trượng 5 thước, thủy triều xuống sâu 1 trượng, đầu đời Gia Long đặt tấn thủ, nay bỏ, hợp vào tấn Xuân Đài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ &lt;em&gt;Tấn Xuân Đài&lt;/em&gt;: ở thôn Tiên Châu, phía đông huyện Đồng Xuân. Trước gọi là Bà Đài, năm Minh Mạng thứ nhất đổi tên hiện nay. Cửa tấn rộng 2 trượng (?), thủy triều lên sâu 1 trượng 2 thước, thủy triều xuống sâu 8 thước, có tấn thủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Tấn Đà Nông: ở thôn Phú Lạc, phía đông nam huyện Tuy Hoà. Rộng 12 trượng 8 thước. Thủy triều lên sâu 4 thước 8 tấc, thủy triều xuống sâu 3 thước 5 tấc, trước có tấn thủ, nay bỏ [91, 75-77].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm Tự Đức thứ 3 (1850) chuẩn: “đồn Phúc Sơn phải nên để như cũ, còn 3 đồn Thạch Lĩnh, Ỷ Lộ, Vân Trúc là đồn lẻ, đều được bỏ bớt đi. Còn viên bá hộ đặt trước ở đồn Ỷ Lộ thì đổi làm bá hộ đồn Phúc Sơn. Hai tấn Cù Mông và Đà Nùng cũng vẫn đặt y như cũ. Duy lệ phu tấn Đà Nùng không có định lệ; nay cứ bắt lấy 10 tên dân phu ở thôn Đa Ngư gần đấy để sung bổ vào đấy. Lại tấn Vinh Lâm hợp với tấn Xuân Đài làm 1, viên tòng bát phẩm thừa biện ở tấn ấy trước, nay đổi bổ đi tấn Xuân Đài. Lại liệu bắt 20 tên dân thôn Tiên Chu và 10 tên dân thôn Tân Thịnh sung bổ làm lệ phu. Còn như hai tấn Phú Sơn, Đà Diễn đều là nơi trống không, thì bỏ bớt đi [74, 673]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;- Khánh Hòa&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; chép về các tấn: Nha Phu, cửa lớn và cửa bé Cù Huân, Cam Linh, Vân Phong lớn và Vân Phong nhỏ đều đặt thủ sở, cắt đặt thủ ngự, hiệp thủ “để tuần phòng ngoài biển và hộ vệ tàu thuyền ra vào cửa lạch” (tập 3; 110-111)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm Minh Mạng 15 (1834), "Vua lại lấy cớ đảo Côn Lôn thuộc tỉnh Gia Định, vùng Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hoà, rất quan trọng thiết yếu, mới sai đảo Côn Lôn lập pháo đài Thành Hải, một ngọn núi ở vùng Nha Trang đặt pháo đài Ninh Hải" [94, 252]. Sự kiện này sách &lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; cho rằng năm xây dựng năm là 1836 [91, 109]; Cao Xuân Dục chép lại kỹ hơn trong &lt;em&gt;Quốc triều sử toát yếu&lt;/em&gt; và cũng cho rằng tháng 12-1836, “xây pháo đài Ninh Hải ở tỉnh Khánh Hoà. Bởi vì tỉnh ấy biển rộng lại nhiều cù lao, có một đám núi ở vũng Nha Trang đàng trước có đầm sâu, tàu đậu đông, quan tỉnh xin xây đài ở đỉnh núi ấy, đặt súng đại bác, phái quân canh giữ kiêm 3 phía đông nam bắc, khiến bộ Công đưa thức mà làm [29, 264].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;- Bình Thuận&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hội điển chép về phân công bố phòng ở các cửa biển Bình Thuận như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tấn Ma Văn, cảng phu (dân phu coi cửa biển) 9 tên. Tấn Phan Rang tấn thủ 1 viên, cảng phu 6 tên. Tấn Long Vĩnh tấn thủ 1 viên, cảng phu 5 tên. Vịnh La Hàn cảng phu 7 tên. Tấn Tiến tấn thủ 1 viên, cảng phu 19 tên. Vịnh Vị Nê; cảng phu 8 tên. Tấn Phan Thiết tấn thủ 1 viên, cảng phu 16 tên. Tấn Ma Ly: tấn thủ 1 viên, cảng phu 9 tên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra, &lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; còn cho biết thêm các tấn: Cà Ná, Vũng Dâm, Phan Rí, Phố Hài, La Di đều có đặt thủ sở và cắt đặt thủ ngự, hiệp thủ trông coi [91, 145-147]. Năm Gia Long thứ 5 (1806) chuẩn định: dân phụ lũy ở các tấn hạt trấn bình Thuận: tấn Phan Rang 15 tên, Ma Văn 2 tên, 3 tấn Long Vĩnh, Ma Ly, La Hàn đều 10 tên, tấn Phan Lý 30 tên, vịnh Vị Nê 28 tên, tấn Phan Thiết 20 tên, đều đặt tấn thủ cai quản tuần phòng [74, 674].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 2-1821, vua Minh Mạng "sai Bình Hoà mộ người lập hai đội thuộc lệ, mỗi đội 50 người chia ra đóng ở thủ Bình Nguyên và các cửa biển Cam Ranh, Hòn Khói" [80, 118]. Và cũng như những tỉnh khác, những tấn giữ vị trí không quan trọng thì lưc lượng phòng thủ ít, thậm chí như tấn Phan Thiết về sau cũng bãi bỏ thủ sở.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với sự khái quát trên cho thấy các pháo đài Phòng Hải được xây dựng ở những của biển quan trọng của các tỉnh như pháo đài Biện Sơn, Tĩnh Hải ở Thanh Hóa, Hổ Cơ ở Bình Định, Thành Hải ở Khánh Hoà... Các cửa biển nhỏ thì giao cho dân trong vùng phụ giữ, tùy theo mức độ quan trọng của cửa biển mà tăng cường hay thoái triệt lực lượng tại tấn sở. Riêng Quảng Ngãi là tỉnh có nhiều đảo và quần đảo quan trọng nên được bố trí lực lượng chuyên nghiệp đặc biệt. Vừa tuần phòng vừa canh giữ ngoài khơi. Việc phòng thủ vùng biển ở các địa phương hầu hết nhà nước đều giao quyền chủ động tác chiến cho địa phương, trong đó nhà nước giữ vai trò chỉ đạo. Như năm sự kiện năm 1834 là một thí dụ: "vua lấy cớ các đảo và bãi ở ngoài bể thuộc các địa phương có nhiều dân cư, chợt gặp giặc bể không lấy gì để chống giữ, mới sai Binh bộ truyền các tổng đốc, tuần phủ, bố chánh, án sát ở địa phương có hải phận, bắt dân sở tại phải đóng kiểu thuyền đi được nhẹ nhàng, phí tổn do nhà vua cấp phát. Lại cấp binh khí, súng ô sang và đạn dược để đề phòng lúc không ngờ" [94, 252]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hiện nay hầu hết các căn cứ bố phòng ở các cửa biển miền Trung đã mất dấu tích nên rất khó xác định được vị trí của nó đương thời. Cho đến nay, những di tích đáng kể của hệ thống phòng thủ cửa biển là một đoạn di tích thành Điện Hải tại khuôn viên Công ty Dược, đường Lý Tự Trọng (Đà Nẵng), di tích Hải Vân quan (trên đỉnh đèo Hải Vân) và một đoạn thành Trấn Hải gần bãi tắm Thuận An. Vị trí của các căn cứ phòng thủ ở Đà Nẵng trong sơ đồ của Lưu Anh Rô vẽ [ ] thực ra chỉ có tính tương đối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;• +++ Các vua Nguyễn đã có cái nhìn hướng biển đúng đắn. Họ đã đánh giá đúng giá trị của biển cả trong phát triển an ninh quốc phòng và hoạt động kinh tế. Chính vì thế ngay khi mới giành lại chính quyền, ý thức bảo vệ biển đảo đã được cụ thể hóa không chỉ bằng những lời nói trong các chỉ dụ mà chính là việc thực thi chủ quyền biển đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;• +++ Dưới thời Nguyễn, quân đội nói chung, thủy quân nói riêng được tổ chức khá hiện đại và chuyên nghiệp. Thể hiện bằng đội tàu thuyền “mạnh chưa từng có ở vùng biển Ấn Độ” với trang bị và huấn luyện theo phương pháp châu Âu. Ngoài lực lượng quân đội thuộc binh chủng thủy quân được biên chế còn có quân địa phương. Ngoài nhiều kiểu loại thuyền chiến mới, đa dụng còn có thuyền của các địa phương, thuyền đánh cá được huy động khi cần thiết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn đã xây dựng hệ thống thông tin liên lạc với những cách thức phong phú nhằm đảo bảo việc thông tin được nhanh chóng và chính xác. Hệ thống này luôn có sự đổi mới nhằm phục vụ tốt nhất cho nhu cầu thông tin quân sự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;• +++ Ý thức về tầm quan trọng trong phòng thủ ở các cửa biển, nhà Nguyễn đã quan tâm xây dựng hệ thống phòng thủ dày đặc và liên hoàn khắp các tỉnh miền Trung. Đặc biệt là cửa biển Đà Nẵng, nơi thường đón tiếp tàu phương Tây và Thuận An, cửa ngõ của Kinh đô. Hai cửa biển này được bố phòng chu đáo nhất. Bên cạnh lực lượng quân đội chính qui được bố trí ở các vị trí quan trọng, thì lực lượng “cảng phu” (dân phu coi cửa biển) ở các địa phương cũng góp phần vào việc phòng giữ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CHƯƠNG 3&lt;br /&gt;HOẠT ĐỘNG PHÒNG THỦ VÙNG BIỂN CÁC TỈNH MIỀN TRUNG&lt;br /&gt;DƯỚI TRIỀU NGUYỄN: THỜI KÌ 1802-1858&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.1. CHỐNG NGOẠI XÂM&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cho đến trước khi liên quân Pháp – Tây Ban Nha chính thức nổ súng xâm lược Việt Nam vào năm 1858 thì trước đó đã có nhiều cuộc thăm dò và đụng độ của thực dân với quân đội nhà Nguyễn tại các cửa biển miền Trung.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việt Nam nằm trong sự nhòm ngó của phương Tây từ rất sớm. Ngay từ những cuộc tiếp xúc đầu tiên, ý định đánh chiếm và nô dịch đã nảy sinh trong đầu óc của chúng. Không khó để tìm ra những dẫn liệu về điều đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn cũng nhận ra điều đó với thái độ tích cực, tài liệu "Dương sự thủy mạc" cho biết đánh giá của họ: "Bến Đà Nẵng rộng, tàu Tây dễ đậu, lại có núi bao bọc, không có sóng gió nên dễ neo tàu, người Tây bấy lâu nay họ thường đậu tàu lại, không kể phép tắc triều đình. Hơn nữa Đà Nẵng gần đường quốc lộ (tức đường Thiên lý), gần làng mạc, gần Kinh thành, Đà Nẵng là then chốt của nước ta, cho nên người Tây muốn chiếm lấy" [97, 29]. Lưu ý rằng từ thời chúa Nguyễn, những cuộc đụng độ với phương Tây (Hà Lan) cũng ở vùng biển miền Trung, cho nên nhà Nguyễn chỉ mở một cửa biển là Đà Nẵng trong giao tiếp với phương Tây, và xây dựng nơi đây thành một cứ điểm vững chắc nhất, là có cơ sở.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau chiến tranh nha phiến với sự thất bại của Trung Hoa, Pháp cũng muốn tìm một căn cứ ở Viễn Đông. Bộ trưởng Pháp Guizot chỉ thị: "Nhà vua quyết định từ nay một đoàn hải quân sẽ đậu lại ở giữa vùng biển Trung Hoa và Nhật Bản với sứ mệnh che chở và bảo vệ, nếu cần, những quyền lợi chính trị và thương mại của chúng ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng nước Pháp chưa có một điểm tựa nào trong vùng biển này để tàu thuyền đóng thường trực, nơi đây có thể tiếp tế lương thực, sửa chữa rò thủng, đưa lên bộ những kẻ đau yếu, vậy nên phải xin với thuộc địa Bồ Đào Nha ở Ma Cao hoặc hải quân công xưởng ở Lugon (Philippine) một điểm tựa, một điểm trú ẩn, một điểm tiếp tế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây là sự thể không thể chấp nhận được. Thật không thích đáng với nước Pháp phải vắng mặt trong phần thế giới rộng lớn nhường ấy mà các nước Âu Tây khác đã có cơ ngơi tại đây" [60, 104-105]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không phải nói đến mục đích, âm mưu thêm nữa. Đến đây là phần phải giải quyết của Pháp, bởi so với các nước khác dù sao họ cũng đã chậm chân hơn. Thật dễ hiểu với những ngôn từ rằng Pháp đang cần "một điểm tựa, một điểm trú ẩn, một điểm tiếp tế" và "thích đáng" với vị trí của Pháp; cũng không ngoài mục đích của thứ ngôn ngữ hào nhoáng: "sứ mệnh che chở và bảo vệ" quyền lợi chính trị và thương mại, chính xác là thực dân. Vậy nên can thiệp của chúng vào Việt Nam ngày càng mạnh. Việc theo dõi rồi đụng độ kiểu "nắm gân" quân đội nhà Nguyễn liên tục diễn ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối tháng 12-1817, một chiến hạm Pháp mang tên Cybèle trang bị 52 đại bác đến Đà Nẵng, thuyền trưởng De Kerganriou viết thư báo tin cho Chaigneau và Vannier ở Huế. Vannier liền đến Đà Nẵng còn Chaigneau không đi được vì bị đau chân. De Kerganriou không được tiếp kiến nhà vua, lý do là không có thư uỷ nhiệm của vua Pháp. Không nản lòng, ngày 16-1-1818, De Kerganriou lại xin tiếp kiến nhà vua nhưng vẫn không có kết quả đành quay trở về. Trên đường về, De Kerganriou vẽ bản đồ nhiều vị trí dọc bờ biển Việt Nam và kiểm tra lại các bản đồ của Dayot vẽ trước kia [77, 95].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 11-1830, tàu binh nước Pháp đậu cửa Đà Nẵng nói muốn thông hiếu với ta và nói Hồng Mao mưu xâm lược tỉnh Quảng Đông, thế tất liên đến nước ta, dặn ta đừng giúp Quảng Đông. Người Đại Pháp lại tiện thiện lên núi Tam Thai đứng trông; nhơn nói muốn có một người hướng đạo dẫn qua các hạt Bắc thành vẽ đồ; rồi chạy tàu đi. Ngài nghe, cách chức cả thành thủ và thủ ngự ở đài An Hải, Điện Hải” [29, 191].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo Taboulet, "Hành động của người Anh ở Trung Hoa làm Minh Mạng thực sự lo lắng. Nhà vua muốn biết rõ hơn mục đích của những chiến hạm Pháp xuất hiện ở cửa biển Tourane ngày một nhiều” [77, 36]. Giáo sĩ Pháp F. Régerau viết: "ngày 28-2-1840, một thuyền của vua Annam thả neo ở Penang. Chiếc tàu này đi Calcutta để xem người Anh chuẩn bị chiến tranh như thế nào. Một chiếc tàu cũng của vua Minh Mạng đi Batavia để xem người Hà Lan có động binh không. Bởi vì căn cứ theo nhiều báo cáo nhận được, vua Minh Mạng không thể ngủ yên giấc. Một chiếc tàu đi London và Pháp" [60, 107-108]. Tuy nhiên, mục đích cao nhất là cải thiện quan hệ với Anh và Pháp thì không thực hiện được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiều người Việt biết được âm mưu xâm lược của Pháp. Edward Brown, một người Anh bị gió dạt vào bờ biển Việt Nam đã cho biết trong hồi ký: nhiều lần người Việt báo cho ông ta biết rằng may mà ông là người Anh chứ nếu là người Pháp thì thế nào cũng bị đối xử ngược đãi. Xem thế thì đủ hiểu là người Việt cũng thừa rõ những ý định không hay của người Pháp đối với nước họ và hầu hết đều có vẻ như chắc chắn là không mấy lâu nữa là Pháp sẽ tấn công [45, 141].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người Anh thì họ đã rõ, có thể là sự hiển nhiên trong cách hiểu của người phương Tây thông thường: phương Tây sẽ sang phương Đông mang theo tai họa được hào nhoáng thành “khai hóa”. Trong cuộc hội kiến với quan đầu tỉnh Khánh Hoà, E. Brown cho rằng: "Pháp đã yêu sách lấy vịnh Toarane và đảo Coulo Cham (Cù lao Chàm), và nếu không được như ý chắc chắn Pháp sẽ đánh" [45, 141]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế rồi năm 1845, xảy ra một cuộc đụng độ tại Đà Nẵng. Sự kiện này, J. Chesneaux cho rằng: "danh dự" dùng võ lực để can thiệp lần đầu tiên vào xứ Việt Nam thuộc một đơn vị thủy quân Huê Kỳ. Vào năm 1845, một tư lệnh hạm đội Huê Kỳ- mà lịch sử không ghi tên- ghé trước Đà Nẵng đổ bộ để bắt buộc phóng thích một vị giám mục Pháp bị giam cầm, bắt tất cả quan lại và chiếm tất cả chiến thuyền đậu tại hải cảng. Nhưng các con tin đều kháng cự, và viên tư lệnh Huê Kỳ không biết xử trí cách nào, cuối cùng phải thả họ ra rồi lên đường ra biển cả [75, 63].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cốt lõi là có một cuộc tấn công can thiệp liên quan đến giáo sĩ đang bị giam cầm. Nguyễn Đắc Xuân góp thêm tư liệu làm rõ hơn: chiếc tàu đến Đà Nẵng năm 1845 có tên Constitution, còn gọi là Old Ironsides với thuyền trưởng là John Percival và giám mục có tên là Lefèbvre.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ban đầu chiếc tàu đến với một dụng ý tốt, muốn đặt mối giao hảo. Khi biết tin triều đình nhà Nguyễn đang giam cầm giám mục Pháp, viên thuyền trưởng đã dùng vũ lực, bắt tất cả các quan lại nhà Nguyễn đang giao thiệp với y xuống tàu làm con tin để đổi lấy sự tự do cho Lefèbvre. Vua Thiệu Trị không nhượng bộ. John Percival sau vài tuần khiêu khích đã phải thả “con tin” và nhổ neo [122, 54]. Giám mục Lefèbvre sau đó cũng được trả tự do bởi Thiệu Trị cũng nhìn thấy sự nguy hiểm nếu tiếp tục giam cầm ông ta.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, Hoa Kỳ cũng như những nước châu Âu khác đều thấy hải cảng Tourane (Đà Nẵng) của ta rất tốt và đô đốc Perry sau khi hoàn tất chuyến du hành đến Nhật Bản đã yêu cầu Tổng thống Polk chiếm lấy một hải cảng ở châu Á và đề nghị Đà Nẵng. Tổng thống Mỹ bác bỏ đề nghị này vì “việc chiếm đóng lãnh thổ một quốc gia khác ở châu Á không phù hợp với hệ thống chính trị” của Mỹ [142].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thực ra sự kiện trên chỉ là sự manh động của tên thuyền trưởng mà thôi. Phía chính quyền Hoa Kỳ không phát lệnh tấn công. Tổng thống Hoa Kỳ sau đó đã gửi thư xin lỗi triều đình nhà Nguyễn. Châu bản ngày ngày 24-1-1850 cho biết: “Quyền Án sát sứ Quảng Nam Ngô Bá Hy, Lãnh binh Giáp Văn Tân báo cáo có một chiếc thuyền quân sự của nước Ma Ly Căn, cập cảng Đà Nẵng, dâng thư xin lỗi việc một viên thuyền trưởng của họ 4 năm trước đã đến nước ta, lên bờ, làm bị thương đến chết người của ta. Và yêu cầu thông thương buôn bán giữa hai nước” [120, 30]. Người đã xin lỗi triều đình Huế vì hành động của John Percival là Tổng thống Mỹ Zachary Taylor (1849-1850)[122]. Toát yếu có nói đến sự kiên này nhưng lại không hề nói đến sự đụng độ, còn Thực lục thì chỉ nói rất đơn giản về sự kiện 1845: “Thuyền Man của nước Hoa Cân đến cửa biển. Trong Kinh phái viên Thị lang Nguyễn Long cùng thuộc viên của tỉnh là Kinh lịch Nguyễn Dụng Giai đi đến thăm hỏi, bị người Man dọa nạt, bắt xuống thuyền. Bọn Long không biết cự lại. Người Man bỗng nhổ neo đi. Khi bọn Long về, bị cách lưu” [86, 282].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng chính John Percival châm ngòi cho cuộc đụng độ hai năm sau đó khi ông này ra biển trong sự ấm ức thì gặp hai chiếc tàu của hải quân Pháp ngoài khơi, kích động: “Giám mục Lefèbvre và người theo đạo Thiên chúa đang bị triều đình Huế bách hại, hãy mau chân vào cứu” [122, 55]. Đó là cái cớ trực tiếp để năm 1847, Rigault de Genouilly được de Lapièrre (sử Việt Nam gọi là Lạp Biệt Nhĩ) cử đến với một tối hậu thư. De Lapièrre cũng đi sau, trên tàu Gloire. Sự kiện diễn ra như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 2, Thiệu Trị năm thứ 7 (1847), "có hai chiếc thuyền quân của nước Phật Lan Tây đậu ở cửa biển Đà Nẵng, có 5-6 người đạo trưởng công nhiên đeo chữ "thập", đi lại ở nơi cửa biển. Quan dinh tỉnh Quảng Nam xét ra, chúng đến đó có ý kiêu ngạo, đem việc phi tấu lên. Vua sai tả Tham tri bộ Lễ Lý Văn Phức đi đến ngay... khi Phức đã đến cửa biển, bọn Tây dương đính ngày cùng hội với nhau, đến ngày, đầu mục Tây dương là Lạp Biệt Nhĩ đem vài mươi tên đồ đảng, đeo gươm, đeo súng, đến thẳng ngay công quán; ngăn lại không được. Chúng đưa ra một thư của chúng bằng chữ Hán, lời lẽ phần nhiều ngông càn. Phức không chịu tiếp nhận, đầu mục Tây dương quát to để dọa nạt, đặt lá thư lên trên ghế rồi đi. Phức và Đình Tân bàn với nhau rằng: "nhận lấy thư là có tội, mà đốt thư đi cũng có tội, không gì bằng cho chạy trạm về đệ tâu lên". Phức cũng về Kinh để đợi tội... khi Phức đã đi [khỏi cửa biển], bọn Tây dương lại càng rông càn, ngày thường lên bờ, đi lại chỗ làng xóm. Những người nước ta vẫn theo tả đạo, phần nhiều đi lại nom dòm, thông tin tức kín. Những thuyền quân đi tuần biển bị chúng bắt giữ lại ở cửa biển. Có 5 chiếc thuyền bọc đồng ở Kinh phái đi nam (Kim Ưng, Phấn Bằng, Linh Phượng, Thọ Hạc, Vân Bằng) chưa ra biển, còn đậu lại ở vũng Trà Sơn cùng đối diện với thuyền Tây dương cũng bị chúng sấn đến cướp lấy buồm thuyền và dây buộc thuyền. Những người trông coi các hiệu thuyền là Thự phó vệ úy Lê Văn Pháp, suất đội Nguyễn Tri, Nguyễn Quyến, Nguyễn Hy, Lê Tần đều bỏ neo giữ chặt, báo đến Kinh" [75, 63].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Toát yếu&lt;/em&gt; chỉ nói ngắn gọn: tháng 2 năm Thiệu Trị thứ 7, hai chiếc tàu binh nước đại Pháp đậu tại cửa Hàn đưa một quốc thơ bằng chữ Nho. Tháng 3, tàu Đại Pháp gây việc tại cửa Hàn; rồi đi [95, 376].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trần Trọng Kim viết trong &lt;em&gt;Việt Nam sử lược&lt;/em&gt; rằng: “Lúc hai bên còn đang thương nghị về việc ấy, thì quan nước Pháp thấy thuyền của ta ra đóng gần tàu của Pháp, và ở trên bờ lại thấy có quân ta sắp sửa đồn lũy, mới nghi có sự phản trắc gì chăng, bèn phát súng bắn đắm cả những thuyền ấy, rồi nhổ neo kéo buồm ra bể” [55, 240].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến 10 năm sau, tháng 8 năm 1856, tàu Pháp lại gây sự tại Đà Nẵng. “Khi ấy có một chiếc tàu chạy đến xưng rằng: “đệ quốc thơ, xin qua buôn bán”. Rồi lại đến cửa Thuận phủ Thừa Thiên đưa một tập giấy rồi chạy đi. Ngày bữa sau, tàu ấy trở lại cửa Hàn, nói rằng: “đưa thơ xong rồi, chạy tới đây chờ quan chánh, phó sứ đến thương thuyết; nếu không chịu hoà thời về rủ nước Xích Mao qua, chắc sanh việc không tốt”. Việc ấy tâu lên, ngài cho quan bộ Binh nghị, lại truyền tỉnh ấy phái binh tuần phòng. Liền thấy tỉnh ấy dâng sớ tâu: “tàu đại Pháp đã bắn phá các đài bảo ở vũng Sơn Chà rồi”. Ngài dụ quan bộ Binh rằng: “cửa Hàn có việc, ta đã chuẩn cho quan tỉnh Quảng Nam đòi nhóm biền binh tùy cơ chống cự. Chỉ có ải Hải Vân là nơi thông với cửa Hàn, phải sai lính qua đó cho mau canh giữ” [95, 408]. Tiếp đó, Tự Đức “sai Hường lô tự khanh Nguyễn Duy hiệp với quan Hữu dực Đào Trí trù nghĩ việc ngăn giữ ngoài biển” [95, 408].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay sau sự kiện tàu Pháp “bắn phá các đài bảo ở vũng Sơn Chà”, lại có chiếc tàu ba cột buồm tiếp tới “cùng chiếc tàu trước hạ neo đậu một nơi”. Vua Tự Đức chuẩn “phải thêm lính tuyển phong hiệp đồng toán quân trước, đóng giữ cho tráng thanh thế”. Được vài ngày, chiếc tàu máy ra cửa chạy qua phía đông [95, 408].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 11 năm 1856, “quan Trấn dương đại thần tâu: “hai chiếc tàu Tây tới khi trước đó, một chiếc thường đậu giữa vũng, một chiếc thời lui tới không lường; chúng tôi đã sai người tới hỏi, thời họ thường kiếm điều nói rằng: “tới hỏi thăm quan chánh, phó sứ”. Ngài sai khiến phòng bị cho nghiêm” [95, 409].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Giêng năm 1857, tàu Pháp lại đến “xin phái quan giao hội hoà hảo”. Tự Đức giao cho Đào Trí phải “hết lòng lo liệu sao cho nhằm sự cơ” [95, 410]. Châu bản cho biết, ngày 3-1-1857, “bộ Binh báo cáo việc tàu Pháp đến Đà Nẵng và yêu cầu được đưa lên Kinh, nói chuyện với một quan chức nhất phẩm. Bộ Binh đề nghị các quan ở Đà Nẵng mặc triều phục đón tiếp và thương thuyết với họ. Nếu Pháp tự tiện cho tàu đến Thuận An thì sẽ tùy cơ xử trí [120, 48].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếp đó, ngày 6-1- 1857, bộ Binh báo cáo về việc sẵn sàng nổ súng nếu tàu Pháp từ Đà Nẵng tự tiện kéo đến Thuận An [95, 48]. Như thế cũng cho thấy sự sẵn sàng và quyết tâm bảo vệ của quân đội nhà Nguyễn. Họ cũng đã bắt được một kẻ nội gián như báo cáo của bộ Hình ngày 2-4-1857, “Hồ Đình Hỷ, một viên quan tam phẩm tại Nội vụ phủ, can tội theo đạo Thiên chúa, gửi con trai đến Hạ Châu học đạo, liên lạc với Tây dương vào lúc tàu chiến Pháp bắn phá Đà Nẵng” [95, 49]. Đó là tất cả những gì họ làm được, chỉ có thế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Triều đình Huế không nhượng bộ. Nhưng rõ ràng là bị động trong tất cả các cuộc đụng độ và lãnh hậu quả nặng nề về vật chất và con người. Sự báo động về nguy cơ bị tấn công đã rõ. Nhà Nguyễn ý thức được điều này. Một báo cáo của nhà Nguyễn nói rõ: "bọn mọi rợ Âu châu rất cương quyết và rất bền gan; những sự nghiệp mà họ không hoàn thành được thì họ giao cho con cháu họ hoàn tất; những chương trình mà họ không có thì giờ thực hiện, thì họ giao cho kẻ hậu sanh thực hiện. Họ không bỏ qua một mưu lược nào cả. Và không thối chí bất cứ sự khó khăn nào. Đó là điều khiến ta đáng lo ngại hơn hết. Các người mọi rợ ấy tìm đến tất cả các quốc gia mà không sợ sự mệt nhọc nào. Họ mua chuộc các dân tộc không sợ sự tốn kém nào" [75, 63].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài những cuộc đụng độ kể trên còn có những cuộc thâm nhập của người phương Tây vào các cửa biển khác. Châu bản cho biết, ngày 29-8-1857, bộ Binh trình báo cáo của tỉnh thần Quảng Bình Tạ Hữu Khuê về việc: “vào giờ Thân ngày 20 tháng trước có hai chiếc thuyền của Tây dương từ phía nam đi tới hải phận Sơ Tiêu Trang, khoảng 30 người đổ bộ lên bờ, vào cuớp trâu bò lợn gà của dân trong làng và tìm người theo đạo Thiên chúa” [120, 52]. Qua việc này cho thấy rằng, sự việc có vẻ nghiêm trọng nhưng báo cáo lại rất muộn, không có một chi tiết nào nói tới sự đề kháng, thể hiện sự bất lực nhất định trước sự xâm nhập táo tợn của người phương Tây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau sự kiện tàu Tây gây hấn ở Đà Nẵng và Thuận An, triều đình Tự Đức đã phải tăng cường phòng thủ ở hai cửa biển này. Tháng Giêng năm 1857, “quan phủ Thừa Thiên tâu xin đắp hai bờ lũy vòng câu ở cửa Thuận An, bên bãi cát, phía nam và phía bắc để giúp việc phòng giữ, ngài nghe theo” [29, 378]. Ngày 18-7-1857, ba bộ Hộ, Binh, Công đệ trình tập hồ sơ “phòng thủ hải cảng” của Đào Trí, xin xây hai pháo đài ở cửa biển Đà Nẵng, củng cố đồn lũy để chống quân Pháp xâm phạm hải cảng [120, 52].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tự Đức còn cho tổ chức diễn quân thủy và thuyền chiến ở ngoài hải phận của mình. Tấu ngày 14-5-1857, cho biết: “Nguyễn Doãn Thần và Trần Tiễn Thành báo cáo về cuộc thao diễn thủy quân, chiến thuyền và bắn súng đại bác ở ngoài hải phận Việt Nam” [120, 50-51]. Vào thời điểm này việc thao diễn rõ ràng đã thể hiện sự đề phòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tóm lại, khi những thuyền chiến phương Tây tiến về phương Đông, nhà Nguyễn có lý do để đề phòng âm mưu xâm lược. Đó là những kinh nghiệm từ những thế kỷ trước, việc phải đối phó thường xuyên với sự xâm lấn lãnh thổ của Tây dương, biết số phận của hai nước lớn Trung Hoa và Ấn Độ cũng như một số nước khác, làm cho những suy luận chính trị ấy có cơ sở để củng cố. Cái mấu chốt là nhà Nguyễn sợ làm di hại đến nền độc lập nước nhà. Thực tế cho thấy, tuy không mở rộng giao thương buôn bán, song Việt Nam không phải là kẻ cô lập hoàn toàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cho đến giữa thế kỷ XIX, bằng mọi cách Pháp phải thâm nhập, không "thuyết phục" được thì dùng vũ lực đó là điều không tránh khỏi. Những cuộc đụng độ đầu tiên ấy tuy có phần manh động, chưa phải là chính thức nhưng lại cho thấy sự yếu kém và thiếu chủ động của hoạt động phòng thủ tại những cửa biển được bố phòng mạnh nhất, Đà Nẵng và Thuận An.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS. Cao Huy Thuần có lý khi cho rằng những thăm dò có mục tiêu cụ thể, nhắm đúng vào vị trí chiến lược cụ thể, và rồi cái gì đến cũng đến: “không phải là cuộc biểu dương lực lượng đơn thuần, cũng không phải là cuộc chiếm đóng tạm thời một hay nhiều địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam; rõ ràng đây là một cuộc viễn chinh thuộc địa, vì nó nhằm xây dựng một thuộc địa Pháp vĩnh viễn ở góc này của Viễn Đông" [110, 53]. Ông muốn nói đến việc Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam năm 1858.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3.2. PHÒNG CHỐNG CƯỚP BIỂN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người đi biển gặp muôn vàn rủi ro trước biển cả mênh mông đầy bất trắc. Dưới triều Nguyễn, mối đe dọa thường trực khác đối với họ còn là bọn cướp biển. Sử nhà Nguyễn gọi chúng là “hải tặc”, “giặc biển”, “giặc Tàu Ô”, “Thanh phỉ”... Phòng chống cướp biển là mối quan tâm lớn của nhà Nguyễn. Đó không chỉ là trừ mối họa trước mắt mà còn là việc thực thi chủ quyền vùng biển, đảm bảo cho thuyền bè qua lại trên vùng biển được an toàn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cướp biển nhiều nhất là vùng Quảng Yên, chúng trà trộn vào thuyền buôn, thuyền đánh cá với nhân khẩu hàng ngàn người nên khó phát hiện. Những thuyền này đã tràn xuống phía nam mà quấy nhiễu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 5-1802, Gia Long nói với các quan: "Nay ta bắt được giặc biển, cũng là giặc trốn của nhà Thanh, ta có thể sai người đưa sang trả trước..." [79, 495]. Sau đó nhà Nguyễn đem nộp "giặc biển Tề Ngôi" cho nhà Thanh. Được thế, sử nhà Nguyễn nhân thế mượn lời vua Thanh cho rằng "Tây Sơn vô đạo, lại chiêu nạp bọn Mạc Quang Phù cho cướp bóc ở ngoài biên, đã lâu ngăn trở đường biển, đến nay được tin báo, rất vui lòng" [79, 496].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gia Long năm thứ 2 (1803), ban chỉ truyền cho đồn phân thủ ở cửa biển Úc: “từ nay về sau, hễ thấy đích thực có giặc biển qua lại ở ngoài biển, thì một mặt chạy tin hỏa tốc báo cho quan công đường chuyển, tâu, một mặt chạy tin hỏa tốc báo cho các đồn phân thủ ở ven biển vào miền trong, phía nam đến thành Bình Định. Lại một mặt chạy tin hỏa tốc báo cho các đồn phân thủ ở ven biển ra miền ngoài, phía bắc đến sứ Bắc thành, để tiện sức cho tàu thuyền công, tư phòng bị" [74, 424].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để bảo vệ thuyền công trên biển, Gia Long năm thứ 5 (1806), ban dụ cho trấn Thanh Hóa: "từ nay, đoàn thuyền vận tải vượt biển, cần phải đề phòng ngăn chặn. Hiện đã truyền chỉ cho Bắc thành chọn lấy thuyền ô sai và binh đinh khí giới đầy đủ, và phái cai đội Tiểu sai ngồi vào thuyền, để bảo vệ đoàn thuyền đến Biện Sơn. Lại truyền chỉ cho trấn Nghệ An chọn ra 10 chiếc thuyền ô sai, và 10 chiếc thuyền sai ở Kinh, cùng đến Biện Sơn, tuần tra mặt biển, để đợi bảo vệ tiếp nhận. Ở trấn nên phái ra 10 chiếc thuyền ô sai, và phái viên phó vệ úy của hai vệ tiền võ, thuận võ, đem binh đinh khoẻ mạnh của hai vệ chia ngồi vào thuyền, đến đóng ở cửa Bạng, cùng với thuyền sai ở Kinh và Nghệ An, tuần tra mặt biển Biện Sơn. Hễ thấy thuyền sai của Bắc thành, bảo vệ đưa đoàn thuyền đã đến Biện Sơn thì lập tức báo cho Cai đội đội Tiểu sai ngồi ở thuyền Thanh Nghệ, tiếp tục bảo vệ đoàn thuyền về Kinh... trên đường biển, nếu gặp giặc biển, thì các thuyền binh đi bảo vệ, lập tức nên góp sức đề phòng đánh dẹp. Nếu ai thụt lùi thì đã có quân pháp" [74, 424].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời Gia Long thường xuyên phải đối phó với cướp biển nổi lên ở các địa phương, như: tháng 12-1804, Quảng Bình có nạn cướp biển, sai dinh thần phát binh thuyền dò bắt [79, 620]. Tháng 12-1805, giặc cướp ở ngoài biển Nghệ An, lính tuần dương đánh đuổi chạy, bắt được 18 người. Trấn thần tâu lên, thưởng tiền 200 quan [79, 649]. Tháng 7 – 1807, hạ lệnh cho các dinh cơ đội thuyền từ Quảng Bình vào Nam đến Bình Thuận chia ban ứng trực, người trực ban được cấp lương tháng [79, 705]. Tháng 3-1817, hạ lệnh cho tấn thủ ven biển các địa phương, phàm có thuyền vận tải đi qua phần biển và thuyền giặc lảng vảng thì cho làm tập tâu đệ lên ngay, đừng chờ báo dinh trấn chuyển tâu để đến nỗi chậm trễ [79, 945]...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời Minh Mạng, năm 1829, Quảng Nam có giặc bể đón thuyền đi buôn mà cướp của, quan trấn thành dâng sớ tâu lên. Vua dụ bộ Binh: “trước kia vùng Thanh Hóa và Nam Định bọn giặc bể thường có vài ba chiếc thuyền đón các thuyền buôn mà cướp bóc, sau đều bị quan quân vây bắt, địa phương được yên ninh, nay tỉnh Quảng Nam lại có tin báo này, liệu nhưng hồn ma lũ chuột không thể để lâu, cần bắt giết ngay, tức thì sai quan vệ úy là Nguyễn Đức Trường quản lĩnh binh thuyền ra bể dò thám, vây bắt; lại khiến các quan từ Quảng Trị trở ra bắc, từ Quảng Nam trở vào nam, đều theo địa phận thuộc hạt, sai quân đi tuần tiễu, nếu gặp thuyền buôn người tàu có hình dạng khác thường, mà trong thuyền chứa đồ binh khí, súng đạn, tình bính nghi ngờ, bắt mà trị tội [94, 121-122].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1830, ban chỉ dụ rằng: "căn cứ Quảng Bình tâu báo: “có hai chiếc thuyền giặc, mỗi chiếc ước 40 tên, đều là người nước Thanh đi cướp bóc thuyền buôn ở vùng biển đảo Hấp thuộc hạt ấy, rồi lại chạy đi. Hiện đã sức cho địa phương điều phái thuyền binh cùng đánh dẹp rồi... Hết sức tìm bắt, và đưa giấy cho các địa phương, đem thuyền binh bốn mặt vây đánh, cốt bắt được cả bọn để kết án, thì ắt có thưởng hậu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lại ban dụ, các địa phương có bờ biển từ Quảng Bình trở ra bắc, từ nay về sau, hàng năm từ tháng 3 bắt đầu, đến tháng 7 thì thôi, hai lần liệu phái thuyền binh trong hạt tới những nơi ở các đảo mà thuyền giặc có thể đậu được, kiểm soát hết thảy. Nếu có thuyền dị dạng của người nước Thanh ngầm đậu, tình trạng đáng ngờ, thì lập tức bắt giải về quan địa phương ấy tra xét tâu lên" [74, 425-426].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Mạng năm thứ 20 (1839), “sai lính ở Kinh và bốn cơ quân thủy, bộ, quản, vệ hơn 500 người, đi 10 chiếc thuyền Thanh Hải, Định Hải, Tuần Hải, ô thuyền chia làm hai đạo, một đạo tự tỉnh Thừa Thiên đi sang đàng nam đến tỉnh Bình Thuận, một đạo tự tỉnh Thừa Thiên đi sang đàng bắc đến tỉnh Quảng Yên để tuần tiễu giặc bể” [94, 271].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời Tự Đức, cướp biển tiếp tục hoành hành. &lt;em&gt;Châu bản&lt;/em&gt; cho biết, ngày 18-4-1849, Tổng đốc Quảng Nam, Quảng Ngãi Nguyễn Lương Nhàn báo cáo về việc bọn cướp biển nhà Thanh chặn cướp thuyền buôn ở cửa sông Đại Áp [120, 25]. Ngày 28-4-1849, Tuần phủ Thuận Khánh Nguyễn Đăng Uẩn trình việc một chiếc thuyền buôn bị bọn cướp biển Trung Quốc cướp ở hải phận tấn Đà Thủy. Xin cho thuyền tuần tiễu thường xuyên [120, 25]. Ngày 4-2-1851, bộ Binh báo cáo về tình hình bọn cướp biển Trung Quốc chận cướp thuyền buôn ở tấn Vân Phong, Cam Linh tỉnh Khánh Hoà [120, 33]. Ngày 3-3-1851, bộ Binh trình báo cáo của Phan Huy Vịnh ở Quảng Ngãi về tình hình bọn phỉ Trung Quốc qua lại hải phận vùng này, chặn cướp các thuyền buôn, làm cản trở đường giao thông hàng hải giữa hai miền Nam- Bắc. Đã cho thuyền tuần tiễu ra sức trừ nhưng vẫn chưa hoàn toàn tiêu diệt được bọn chúng [120, 35].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thậm chí có khi giặc biển táo tợn đồng loạt nổ súng vào cửa biển, quấy rối vùng biển, mang vũ khí đổ bộ lên bờ.... như ngày 26-4-1851, bộ Binh báo cáo về việc 10 chiếc tàu của Thanh phỉ nổ súng bắn vào cửa biển Cần Trà (?) trong ngày 10-4 [120, 39]. Ngày 18-7-1857, Bố chánh sứ Khánh Hoà Tôn Thất Dương báo cáo về việc: ngày 19-4 bọn cướp biển Trung Quốc lẻn vào bắn phá tàu buôn bị thuyền tuần tiễu của cửa biển Cam Ranh đuổi đánh. Sau một trận giao tranh, bọn cướp yếu thế phải bỏ chạy về phía đông [120, 52].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc tuần tiễu được thực hiện, Châu bản thời Tự Đức cho biết liên tục hai ngày 3 và 4 tháng 5 năm 1851, bộ Binh báo cáo về việc tiễu trừ Thanh phỉ sang cướp bóc thuyền buôn của ta trong hải phận tỉnh Quảng Ngãi. Ngày 6-5-1851, bộ Binh lại báo cáo về việc tiễu trừ thuyền của bọn Thanh phỉ nổ súng quấy rối ở vùng biển thuộc cửa biển Thị Nại. Ngày 7-5-1851, bộ Binh lại báo cáo về việc tiễu trừ thuyền của bọn Thanh phỉ sang cướp bóc thuyền buôn, mang vũ khí đổ bộ lên bờ thuộc cửa biển Sa Huỳnh, Quảng Ngãi. Ngày 8-5-1851, bộ Binh lại báo cáo về việc tiễu trừ thuyền của bọn Thanh phỉ xâm nhập hải phận thuộc cửa biển Hoàng Sa, Quảng Ngãi, cướp thuyền buôn và đổ bộ lên bờ [120, 40-41].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối tượng cướp biển hướng tới là thuyền buôn và thuyền đánh cá vốn không được trang bị vũ khí cần thiết. Vì vậy, năm 1833, vua dụ bảo bộ Binh “giặc bể ở đảo Đồ Bà vào khoảng giao thời mùa hè và mùa thu lừa khé lén ra để quấy rối dân chúng ở gần bể. Vậy sai tỉnh Bình Định, tỉnh Phú Yên, tỉnh Khánh Hoà ước lượng mà cấp súng ô sang và giáo mác cho các xã thôn để chống với giặc cướp” [94, 250].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1834, Minh Mạng “lấy cớ các đảo và bãi ở ngoài bể thuộc các địa phương có nhiều dân cư, chợt gặp giặc bể không lấy gì để chống giữ, mới sai Binh bộ truyền dụ các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát ở địa phương có hải phận bắt dân sở tại phải đóng kiểu thuyền đi được nhẹ nhàng, phí tổn do nhà vua cấp phát. Lại cấp binh khí, súng ô sang và đạn được để phòng bị lúc không ngờ" [94, 252]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) cho phép cấp súng trường cho thuyền buôn: "Nếu thuyền hộ khi nào ra bể buôn bán thì cho thuyền hộ ấy làm đơn, lý trưởng làng ấy nhận thực, quan tỉnh ấy phê làm bằng, chiếu theo số mà cấp. Thuyền hạng lớn thì 10 cây súng trường, thuyền hạng vừa hạng nhỏ thì trên dưới 5,6 cây. Phàm đi qua các cửa bể mà có vào tấn để buôn bán, thì tới trình nghiệm với viên thủ ngự sở tại. Khi về đến quê, thì đem súng trường đã lĩnh ấy nộp lên tỉnh" [74, 419]. Ngoài ra các loại như câu liêm, dao găm, quả đấm bằng đá, dùi gỗ thì không cấm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1837, viên thự Án sát tỉnh Phú Yên là Đỗ Huy Cảnh tâu nói: “hải phận ở tỉnh ấy trước đây có giặc tàu nổi lên, ở tỉnh đem thuyền đại dịch đi tuần bắt, quả nhiên bắt được gian thương mà giặc nước Thanh mất tích. Nay xin bắt những tỉnh dọc theo bờ bể chuẩn y mẫu thức thuyền “đại dịch” để phòng bị lúc đi tuần dương”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vua dụ rằng: “thời nên bắt chước mà làm. Nay chuẩn cho tỉnh Phú Yên và những tỉnh Bình Định, Quảng Nghĩa, Khánh Hoà, Bình Thuận đều chiếu theo mẫu thức hình dáng chiếc thuyền đại dịch, mỗi tỉnh đóng hai chiếc, gặp thời tiết gió nam thời phái quân lính đắc lực giả dạng là người đi buôn, mà trong thuyền đủ khí giới súng đạn để đi ra ngoài bể.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như thế, một là lợi dụng bọn giặc hiểu nhầm đến thuyền nhờ thức gì mà ta bắt lấy, hay là chợt gặp bọn ấy ăn cướp những thuyền buôn bán thời ngăn chặn lại mà bắt, hai là dùng làm thuyền binh đi tuần tiễu để mạnh việc canh phòng ngoài bể, thế là nhất cử lưỡng tiện” [94, 265].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy vậy như thế vẫn là qúa ít ỏi và thô sơ. Hồi ký của Edward Brown cho biết thông tin ngược lại: "chỉ thuyền bè của chính quyền mới được quyền mang võ khí, và tuy trên biển có rất nhiều giặc tàu ô nhưng thuyền buôn không hề được sử dụng một thứ võ khí nào, dù chỉ là để tự vệ”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thứ "vũ khí" có trên thuyền buôn được ông mô tả: “nó là một thứ ống tre nhỏ, đường kính chừng 6 phân rưỡi và bề dài được độ một thước, bên trong nòng thì chứa đầy thuốc súng. Những nòng tre này được buộc vào những chiếc cột gỗ dài chừng hai thước. Để dùng võ khí đó, người ta làm như sau: "đốt thuốc súng và dí đầu súng vào tàu địch khi địch tấn công hay địch trèo qua thuyền mình. Làm như thế thì thuyền địch dễ bị cháy và phải thối lui. Súng này có thể có công hiệu đối với một địch quân không võ trang, nhưng đối với bất cứ người nào có súng thật thì nó chẳng còn công hiệu được gì nữa" [45, 133].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chưa biết thông tin nào là chính xác và thuyết phục hơn nhưng xem ra, vũ khí của thuyền buôn và thuyền đánh cá nhằm chống lại cướp biển còn qúa khiêm tốn, hãy thử so sánh với trang bị vũ khí và tổ chức của bọn cướp biển, được mô tả như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Bọn họ là người Tàu ở các tỉnh miền biển Triết Giang, Phúc Kiến, Hải Nam, Quảng Đông. Bọn này là những thủy thủ lành nghề, tánh tình hung hãm, cướp của, giết người, hãm hiếp đàn bà con gái, bắt cóc thường dân... Chúng thường chận cướp các thuyền buôn ngoài biển, đổ bộ lên các làng mạc Việt Nam nằm dọc bờ biển để cướp phá. Thuyền của chúng được thiết kế và đóng đặc biệt. Thuyền chúng không chạy bằng máy, có ba cột buồm lớn hình cánh dơi và khoảng 50 người chèo. Thuyền đóng tại các bến ở miền biển Triết Giang, Phúc Kiến. Thuyền làm bằng gỗ có đóng đai sắt, vừa để đánh cá mà cũng là thuyền trận. Thuyền được trang bị súng đại bác, thủy thủ sử dụng dao, mã tấu, câu liêm, móc sắt... Thuyền có 3 tầng: tầng trên hết bằng phẳng có trí súng đại bác, là nơi giao chiến khi xáp trận và cũng là nơi kéo các lên khi đi đánh cá. Tầng giữa là nơi người ở, hai bên mạn thuyền có chừa lỗ cao hơn mặt nước, các mái chèo được đưa ra ngoài dùng để chèo thuyền đi. Tầng cuối để lương thực, nuôi súc vật, chứa nước uống, kho súng đạn... tương tự như thuyền trận đế quốc La Mã. Trong thuyền có thiết kế nhiều ô con bằng gỗ kiên cố để không cho nước tràn vào làm chìm thuyền khi thuyền bị bắn thủng hay có sự cố tương tự như tàu chở dầu ngày nay. Trong tình trạng đó tàu vẫn chạy như thường và có thể hàn gắn vết thủng trong một thời gian ngắn. Một chiếc Tàu Ô cỡ lớn có thể chở một thủy thủ đoàn vài trăm người, có đủ lương thực nước uống nuôi sống họ trong vài tháng trên biển mà không cần ghé bờ tiếp tế. Giặc Tàu Ô là mối đe doạ lớn về an ninh Việt Nam trong vùng biển. Chúng chia thành nhiều nhóm ẩn trú trong vịnh Hạ Long, Quảng Yên về sau tiến vào vùng bờ biển phía nam, nhất là vào thời kỳ Tự Đức. Giặc Tàu Ô khi ẩn khi hiện, lại thêm thiện chiến, vũ khí đầy đủ, hiện đại nên thủy quân Việt Nam không thể dẹp yên được... tình trạng này kéo dài đến khi Pháp cai trị Việt Nam" [45, 133].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Patrick J. Honey, cũng cho biết: "Nhà nước Việt Nam thời ấy rất có cảm tình và ưa chuộng đối với Anh, vì những chiến hạm Anh thường hay đánh đuổi những giặc bể hoành hành dọc theo duyên hải Việt Nam" [45, 142]. Tuy nhiên ý kiến này có nhiều ngộ nhận và thiếu thuyết phục bởi trên thực tế không có tài liệu phía nhà Nguyễn nào đứng về điều đó, ngược lại nó mang nhiều ý nghĩa ngoại giao.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hải tặc hoành hành trên biển, theo Yoshiharu Tsuboi, không chỉ là hải tặc người Hoa rất táo tợn mà còn có cả người Việt. Thậm chí có phụ nữ và trẻ con. Tư liệu về lá thư của giám mục Retord được Yoshiharu Tsuboi trích dẫn cho biết: "sau các sứ thần, tới lượt bọn phỉ và hải tặc, chúng đã và đang gây rất nhiều tai họa ở đây. Năm ngoái (1849), toàn vùng duyên hải Đàng Ngoài và Đàng Trong bị bọn giặc ấy cướp phá; chúng đi từng đoàn từ 50 đến 60 chiếc ghe, trong đó có những ghe nhỏ của phụ nữ, trẻ con để chở những vật đã cướp được và những ghe lớn, được vũ trang đầy đủ, có đông người để đánh nhau và tiếp tục cướp bóc nữa" [118, 168].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy hoạt động của tuần hải, chống cướp biển luôn được quan tâm nhưng cướp biển vẫn hoạt động mạnh, gây nhiều “tai họa” cho tàu thuyền trên biển, có lẽ chính vì thế mà viên tuần vũ Quảng Nam bị trách phạt. Tấu ngày 21-4-1838 của Tuần vũ Quảng Nam Hồ Bảo Định rằng: "ngày 18- 3, thần xin chỉnh các binh thuyền tuần bổ hải phỉ, y viên đã tuân hành cỡi thuyền đi tuần thám khắp nơi ngoài biển nhưng không gặp bọn giặc ở đâu cả" [22, tập 69, 69].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thực hư thế nào thì không rõ. Hoặc giặc biển qúa “lẻn lút”, hoặc Hồ Bảo Định kém tài, có thể là cả hai, nhưng Minh Mạng thì rất quan tâm đến điều này. Ba tháng sau, ngày 12-7-1838, bộ Lại tâu: "Tuần vũ Quảng Nam là Hồ Bảo Định đi tuần tiễu ngoài biển đã hơn một tháng không bắt được giặc biển”. Phụng chỉ: giáng hai cấp, cho lưu nhiệm. Bộ xét: Hồ Bảo Định trước bị giáng hai cấp, nay hai cấp nữa là 4 cấp, theo lệ phải do bộ xét chuyển đi chỗ khác". Châu phê: cho ở lại làm, để xem xét về sau” [22, Minh Mạng, tập 72, 32].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tự Đức năm thứ 4 (1851), chuẩn: “từ nay hải phận nào có giặc nổi lên mà không bắt được, nếu là nơi chuyên trách của đồn biển, thì viên tấn thủ sở tại bị giáng 3 cấp lưu nhậm. Còn về giặc nổi lên ở chỗ hai đồn biển tiếp giáp nhau và thuộc về các điều khoản đặt ra để xử lý đối với Kinh phái, tỉnh phái đi tuần thám, cùng viên tỉnh sở tại, thì vẫn tuân theo nghị định trước mà làm” [74, 439].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc phòng chống cướp biển ít nhiều có hiệu quả như các bản tâu và trong một số chỉ dụ trên có nhắc đến. Châu bản cũng nói đến điều đó, như ngày 24-4-1838, tỉnh Quảng Nam lại tâu về việc: ghe buôn Nguyễn Văn Nhơn bị hải tặc người Thanh cướp tại hải phận Quảng Ngãi, ghe buôn Nguyễn Văn Triêm bị cướp tại hải phận Quảng Nam. "May có ghe tuần dương nên khỏi bị mất tất cả" [22, Minh Mạng, tập 70, 85]. Nhưng “tin vui” như thế không nhiều.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn đã cố gắng và có nhiều biện pháp phòng chống cướp biển được tiến hành liên tục trong suốt nửa đầu thế kỷ XIX. Nạn cướp biển phần nào được giải quyết song ở một mức độ nào đó vẫn chưa thể triệt để, thậm chí nhiều khi bất lực và cướp biển vẫn là “mối đe doạ lớn về an ninh Việt Nam trong vùng biển”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3.3. TUẦN TRA&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuần tra là hoạt động quan trọng trong bảo vệ, thực thi chủ quyền vùng biển. Thể hiện qua các hoạt động: kiểm soát, tuần tiễu và giữ yên vùng biển. Với những tổ chức, trang bị và huấn luyện quân thủy như đã nêu trên, nhà Nguyễn có điều kiện để thực hiện tuần tra, gìn giữ vùng biển dài rộng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cái lợi của tuần tra mặt biển được vua Minh Mạng chỉ rõ: “đi tuần phòng ven bể, một là để thao luyện cách lái thuyền cho quen thiện dòng nước, một là để tập đánh dưới nước, biết rõ đường bể, khiến cho bọn giặc bể nghe tin không giám gây sự. Thế có phải là một việc mà được ba điều lợi không” [93, 310]. Một trong những cái lợi trực tiếp là bảo vệ vận tải biển, vốn được sử dụng rất nhiều trong việc vận chuyển sản vật và vật liệu ở các địa phương về Kinh đô. Tháng 8-1810, vua Gia Long định lại 4 điều về việc vận tải biển, trong đó có nói: “việc vận tải cứ mỗi năm một lần, thượng tuần tháng tư thì ra biển. Quan sở tại trước ngày ra khơi, tư ngay cho các trấn thủ các địa phương, ngày đêm đi tuần ở biển; thuyền chở đi qua, có cần giúp đỡ gì, tức thì chiếu cố và khám làm chứng, đem việc tâu lên" [79, 795].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc tuần tra, kiểm soát vùng biển nói chung được giao cho đội quân chính qui, song ở các địa phương thường được giao quyền chủ động. Các tỉnh lấy dân địa phương (dân ngoại tịch) rồi lập thành các đội tuần tra, như tháng 7-1803, “lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập đội Hoàng Sa. Sai thuộc nội Cai cơ Võ Văn Đức quản giữ ba đạo Cần Giờ, Vũng Tàu và Đồng Tranh”. Và Võ Văn Đức cũng tâu rằng: “Cần Giờ trước có quân ba đội Bình Hải, gần đây trốn đi gần hết. Xin hạ lệnh cho Cai đội Tiền thủy là Bùi Văn Hạnh mộ dân ngoại tịch lập làm đội Bình Hải cho lệ theo để sai khiến”. Vua y cho [79, 566]. Bản dụ thời Minh Mạng qui định “các tỉnh có hải phận, đều đóng 2,3 chiếc thuyền nhanh nhẹ, và sai nhân dân các đảo sửa chữa thuyền đánh cá, liệu cấp khí giới để đi tuần thám” [74, 427].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuyền cướp biển thường “dị dạng”, lẫn lộn với thuyền buôn và thuyền đánh cá, để phân biệt thuyền cướp biển với thuyền buôn, thuyền của nhà nước (thuyền tuần tiễu, thuyền công sai), Minh Mạng năm thứ 9 (1828) qui định việc thấy thuyền giặc thì treo cờ bắn súng để phân biệt, “nếu không có cờ, tức là thuyền của giặc, phải nhanh chóng đuổi, đánh, không được lầm lỡ" [74, 425]. Cũng có khi vì phần thưởng mà cố tình bắn giết tàu buôn như sự kiện đáng tiếc dưới thời Tự Đức. Trước đó, năm 1829, "trấn Bình Hoà bắt được 6 chiếc thuyền dị dạng của nước Thanh. Xét ra không có hình trạng phạm pháp rõ ràng, đều tha cho về nơi cũ. Nhưng bảo trước mặt cho bọn ấy rằng: từ nay về sau không được qua hải phận mà đi lại trên mặt bể. Nếu dám trái lệnh phạm cấm, lại bắt được lần nữa, thì ắt theo luật lệ "đậu trên bể” mà trị tội nặng không tha" [74, 417].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để việc nhìn ngắm trên biển được chính xác, năm 1829 vua Minh Mạng ban chỉ dụ phân cấp kính thiên lý cho các tỉnh có vùng biển, đồn biển và thuyền tuần tiễu bởi "vùng biển mênh mông, chỉ có kính thiên lý có thể trông xa được” [74, 425-426].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuyền tuần biển với nhiều loại, như các loại chuyên dụng của nhà nước hay thuyền của địa phương, thậm chí có khi dùng thuyền đánh cá nên công hiệu thấp, năm 1838, vua cho làm thuyền khỏa đồng (bọc đồng) để đi tuần, “thuyền ấy dài 4 trượng, 4 thước, 1 tấc, ngang 1 trượng, 4 tấc, có sàn ngồi để đánh nhau. Các tỉnh dọc theo bờ bể thời làm theo hình dáng thuyền “đại dịch”, mỗi tỉnh 2 chiếc mà tỉnh nào mặt bể rộng mông mênh thời làm ba bốn chiếc đều gọi là thuyền “tuần dương”. [94, 269].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Mạng ban dụ: "Từ Quảng Trị trở ra Bắc, từ Quảng Nam trở vào Nam đều nhanh chóng phái 3,4 chiếc thuyền binh theo hạt biển đi tuần xét. Một khi giặp thuyền dị dạng của nước Thanh, hoặc trong thuyền hiện có súng ống, khí giới, cho đến đồ vật hàng năm bị cướp, và tình hình đáng ngờ, nguyên do phức tạp, thì lập tức giải trình về trấn ấy. Một mặt tâu lên, một mặt xét rõ, xử tội nặng thêm bậc, tâu lên. Những thuyền binh được phái đi, cũng nên hết lòng dạy bảo nghiêm ngặt, không được nhân việc mượn cớ quấy rối thuyền buôn" [74, 426]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1834, Minh Mạng ban dụ: “các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát ở các địa phương ven biển, điều nên xét các đảo ở hải phận trong hạt hiện có dân cư, thì điều sức cho dân ở tỉnh ấy đem thuyền đánh cá nhanh chóng sửa chữa, cho được nhanh nhẹn. Nơi dân số nhiều thì làm 2,3 chiếc. Mỗi chiếc có thể ngồi được trên dưới 20 người. Về phí tổn sửa chữa hết bao nhiêu, thì nhà nước cấp tiền. Lại liệu cấp cho dáo dài, súng trường, thuốc đạn, giao cho dân ấy nhận lĩnh, để dùng đi tuần thám. Khi giặp giặc biển, thì một mặt cùng nhau chống đánh, một mặt chạy báo, cho khỏi bị chậm trễ không kịp việc" [74, 426].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Công tác tuần tra được tiến hành theo chu kỳ nhất định, tùy thuộc vào thời gian có nhiều thuyền buôn và thuyền công sai đi lại nhiều hay ít. Như bản dụ năm 1835: "mỗi khi mùa hè đến kỳ vận tải thi do Đề đốc Thừa Thiên liệu đem theo biền binh thuộc phủ và đem theo biền binh ở đồn biển cùng ra biển, căn cứ theo hải phận qua lại cùng tuần thám bảo vệ. Nếu kỳ nào đoàn thuyền đi vận tải số nhiều, thì cho tư bộ sức thêm thuyền binh, cùng đi do thám... Những thuyền binh hàng năm phái đi, cho cứ vào tháng 3 bắt đầu, tháng 7 thì thôi. Điều này ghi làm lệ" [74, 427]. Binh thuyền phái đi cũng luân phiên thay đổi 3 tháng một lần bởi “phái đi lâu ngày, có phần nhọc mệt, nay chuẩn cho các viên quản vệ đang tại ngũ ở nguyên mà quản suất, còn các viên quản suất dư dả cho đến quân lính, cứ 3 tháng phải chiếu số thay đổi, để cho kẻ làm người nghỉ được đồng đều” [94, 310]. Tuy nhiên cũng tùy theo từng điều kiện cụ thể mà có thể tiến hành sớm hoặc muộn hơn có khi tháng Giêng, tháng Hai đã phải tiến hành tuần thám như bản dụ năm 1838 cho biết: “trước đây trẫm đã giáng lời dụ hàng năm binh thuyền đi tuần ngoài bể, cứ tháng 2 ra đi. Nay tháng Giêng trời đã sáng tỏ mà đường đi thuận tiện, chính là thời kỳ thuyền buôn đi về, thời nên phái đi tuần tiễu ngay để yên vùng bể” [94, 266]. Đặc biệt ở các vùng biển có nhiều hải tặc thì không kể mùa nào bởi “tấn thủ sở tại vốn có trách nhiệm tuần phòng”... [74, 435].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về cách thức tác chiến và trang bị vũ khí, năm 1835, ban dụ: “thuyền của giặc ấy phần nhiều là nhanh nhẹn, chạy giỏi. Chiến đấu với nó, nếu là hơi xa, thì phải dùng đại bác, chỉ định vào mái chèo, bánh lái của thuyền giặc mà bắn tan, gần thì dùng câu liêm giật đứt giây buộc lái, làm cho thuyền đổ nghiêng không chạy được, thì tự khắc bị ta bắt được… Vậy truyền chỉ cho các địa phương ven biển miền trong, miền ngoài, phàm có thuyền binh đi tuần biển đánh giặc, cũng điều theo như thế mà làm [74, 427].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuyền cướp biển thường đi thành đoàn, có tổ chức và được trang bị khá tốt. có khi chống lại thuyền tuần tra. Như năm 1836, tỉnh Khánh Hoà tâu là: “thuyền đi tuần gặp 1 chiếc thuyền giặc, 2 bên màu đen, hai má trước mũi màu đỏ, sau lái và ván giữa 2 bên vẽ hình đầu rồng, lại có 2 lỗ châu mai, điều đặt đại bác, giám bắn súng chống cự với thuyền của quan quân”. Minh Mạng liền cho phái nhiều binh thuyền và “thông sức cho thuyền binh ở Kinh và ngoài các tỉnh phái đi đều lưu tâm tìm bắt ở các đảo” [74, 432-433].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với các địa phương quan trọng như Thừa Thiên và Quảng Nam, Minh Mạng năm thứ 17 (1836), ban dụ: “điều phái binh thuyền ngày đêm lưu tâm đi tuần thám. Nếu có giặc biển lẻn lút nổi lên, thì một mặt đuổi bắt, một mặt chạy báo cho quan địa phương, lập tức phi sớ vào tâu, để tiện bằng cứ vào đấy, mà điều khiển. Còn như một khoản đi tuần, đồn biển Thuận An và các đồn biển giáp hạt với nhau, lên liệu định chương trình thế nào, cho bộ Binh bàn kỹ tâu lên [74, 427-428].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bộ Binh bàn định và tâu: "xét hải phận các đồn biển ở hạt ấy, tuy có xa gần khác nhau, nhưng tính về đường thủy, thì điều là sức một ngày có thể đi tới. Duy binh các đồn ấy và số dân lệ thuộc, có nơi hơn 100 tên, có nơi hơn 30 tên, có nơi hơn 10 tên, cũng có nơi chỉ có 9 tên. Về số thuyền cũng có nơi nhiều, cũng có nơi ít không đều, vậy về binh phu, số thuyền cũng nên có định hạn để phòng khi sai phái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nay kính bàn: đồn biển Thuận An ở Thừa Thiên và các đồn biển Tư Hiền, Chu Mãi, cảnh Dương ở phía nam đến đồn biển Đà Nẵng ở Quảng Nam; từ đồn biển Thuận An đến đồn biển Việt Yên ở Quảng Trị ở phía bắc, cộng 6 đồn biển. Trừ đồn biển Thuận An hiện tại biền binh 143 tên, đồn biển Tư Hiền hiện tại dân lệ thuộc 64 tên, đủ để sai phái ra, còn lại 2 đồn Chu Mãi, Cảnh Dương nguyên số ít ỏi, vốn dân lệ thuộc dồn cộng được 9 tên, đồn biển Đà Nẵng 3 tên, đồn biển Việt Yên 17 tên, xin cho địa phương ấy liệu trích dân quen thuộc nghề dưới nước ở các đồn biển xung quanh, cộng với số dân nguyên lệ thuộc của các đồn biển, cho vừa đủ số, mỗi đồn biển 50 tên. Và miễn việc sai phái vặt cả năm, cho bọn ấy được theo vào đồn biển đó, chuyên sức đi tuần thám.&lt;br /&gt;Về số tàu thuyền cần dùng, thì mỗi đồn biển cần 2 chiếc thuyền ô, 3 chiếc thuyền nhanh, nhẹ chia chạy lần lượt đi tuần thám. Các đồn biển ấy đều căn cứ vào số binh dân, phu thuyền hiện tại mà chia làm hai toán, mỗi toán một chiếc thuyền ô, 15 tên binh phu; súng ống, khí giới đem theo, một chiếc thuyền nhanh nhẹ, 15 tên binh phu. Ra biển xét theo hải phận của đồn biển mình: trở vào phía nam giáp với đồn biển nào, trở ra phía bắc giáp với đồn biển nào, qua lại tuần tra, đủ một ngày đêm trở lại đồn biển. Toán khác tuần tra, như thế luân chuyển thay đổi nhau, cốt được liên tục. Phàm đến nơi giáp giới, là nơi người đi tuần biển của hai đồn biển giặp nhau thì hai bên nên biên ký có nhau làm bằng, để phòng khi tra xét.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lại lồng đèn ở thuyền ô đều viết to hai chữ tên đồn biển, ban đêm treo lên làm hiệu. Ở hải phận đồn biểu nào trong khi du tuần, gặp giặc biển hoặc quả là thuyền dị dạng, cần phải vây bắt, thì bắn 3 tiếng đại bác, ban đêm thì bắn 5 chiếc pháo thăng thiên làm hiệu. Thuyền ô liền khẩn cấp tiến lên chặn bắt, thuyền nhanh nhẹ lập tức theo sự thuận tiện, tới báo cho quan địa phương làm bằng. Một mặt phái thêm thuyền binh đuổi bắt, một mặt chuyển báo cho các đồn biển giáp giới đều lập tức khẩn cấp hội lại cùng đánh. Đồn biển nào đi tuần sơ suất, không đến đầu đến cuối, không có chữ biên ký nơi giáp giới và gián đoạn không liên tục, hoặc đến nỗi bọn giặc được nhân sơ hở lén lút nổi lên, hoặc đụng giặp thuyền giặc mà không lập tức chạy báo, để đến nỗi chậm trễ lỡ việc cùng là đã phát tin báo hiệu, mà đồn biển ở giáp giới khong lập tức đến hội, thì điều cho địa phương ấy tâu hạch nghiêm ngặt, sẽ trị tội theo mức nặng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lại người đi tuần biển của các đồn biển giặp nhau thì trong giấy biên ký nên ghi rõ những chữ; ngày tháng, giờ nào, đến đâu, nơi giáp giới hoặc cuối nơi giáp giới giặp thuyền đi tuần của đồn biển nào? Đến cuối mỗi tháng, viên đồn biển ấy đem tất cả những giấy biên từng ngày đóng thành một tập là bao nhiêu tờ, bẩm lên, do quan địa phương trình nộp. Quan địa phương sẽ xét trong tháng, trừ ngày nào đúng là có gió mưa, không thể đi được, còn những ngày nếu có đồn biển nào, ngày nào không biên ký, không liên tục với nhau, thì lập tức tra xét. Còn nếu cứ theo mức bình thường, liên tục không gián đoạn, thì cứ mỗi tháng 3 kỳ, tư vào bộ để lưu trữ [74, 428].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với những qui định tuần thám trên cho thấy sự chặt chẽ của nó. Minh Mạng cho rằng “theo lời bàn thì ngày đêm luôn luôn đi lại như dệt cửi trên mặt biển xông pha sóng gió, thật là đòi hỏi người ta làm điều rất khó, lòng trẫm thực là không nỡ. Nhưng bờ biển là nơi quan trọng, không thể không chú ý. Vậy cho chuẩn định: hàng năm những tháng từ mùa xuân đến mùa thu, chính là khi thuyền công đi vận tải và thuyền buôn qua lại, thì cho theo như lời bàn mà làm. Còn không phải những tháng ấy, thì cho những viên đồn biển trích lấy 1, 2 chiếc thuyền của dân đánh cá, số phu hoặc trên dưới 5, 3 người, đủ dùng để kéo buồm, bẻ lái cũng được. Trừ ngày nào nhân có gió mưa đi ra không tiện, còn mỗi ngày ra cửa đi lại tuần tra, cốt cho được đều đến những nơi giáp giới. Khi gặp việc quan trọng, khẩn cấp thì lập tức chạy báo, để cho việc tuần phòng ngoài bể được nghiêm. Quan địa phương ấy cần phải thường thường nhắc rõ, không được để cho lâu ngày sinh ra trễ nãi, thì phạm lỗi không nhỏ. Còn những điều khác thì cho y theo lời bàn [74, 428].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xét ra nhà nước đã có nhiều cố gắng trong tuần tra kiểm soát vùng biển nhưng vẫn gần như bất lực với nạn cướp biển. Nguyên nhân của tình trạng trên được thừa nhận là: “Riêng một dải bờ biển kéo dài, gần đây có giặc biển lẻn lút nổi lên, cướp bóc người buôn. Không phải kể một lần mà đủ, đã luôn luôn nghiêm sức cho bọn bộ biền do Kinh phái, tỉnh phái, phải lưu tâm bắt dò. Nhưng nhiều lần căn cứ vào tin báo về sự trạng đánh dẹp, thì chỉ có báo là: khi đến giặp giặc, bắn chết 1,2 tên và cướp lại thuyền buôn mà thôi. Chưa bắt được bọn giặc kết án, nên nó còn dám lảng vảng đi đánh cướp. Xét về nguyên do, đều là vì các viên đi tuần thám e ngại sóng gió, dù có đi dò bắt, rốt cuộc cũng là không có thực dụng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lại một lẽ nữa là nếu thuyền công phái đi là loại thuyền bọc đồng nhiều dây, thì bọn giặc trông thấy ắt trốn xa từ trước. Nếu phái thuyền hiệu chữ Bình, chữ Định thì chất thuyền qúa nặng, không thể chạy nhanh chóng bắt giặc được. Các thuyền Ô, Lê lại qúa bé nhỏ, chỉ lợi đánh ở sông, đường biển sóng gió giặc giặc không đuổi được đến cùng. Nay cho bộ Binh bàn bạc, đóng thuyền đi tuần, về qui cách không cần lớn qúa như thuyền hiệu, cũng không nhỏ qúa như thuyền Ô, thuyền Lê. Cốt cho vừa phải giữa hai loại ấy, lại được nhanh nhẹ tiện lợi, khiến cho sức thuyền có thể giúp cho sức binh. Nếu gặp giặc thì có thể ra biển đuổi cho đến cùng, kỳ bắt được mới thôi. Rồi đem kiểu mẫu trình vua xem, để đợi chỉ tuân làm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai khoản kể trên trách cứ vào hai bộ. Nếu chương trình ban ra mà có điều không chu đáo, đến nỗi bộ biền còn được mượn cớ đun đẩy, không chịu hết lòng bắt giặc, thì cứ bộ Binh mà hỏi tội. Nếu đóng thuyền đi tuần đem thí nghiệm mà không được nhanh nhẹ, tiện lợi thì cứ bộ Công mà hỏi tội. Nếu chương trình đã rõ ràng, kiểu thuyền đã tiện lợi, mà các viên tỉnh không biết sắm sửa khí giới cho thuyền binh, đôn đốc nghiêm ngặt các viên biền binh phái đi, để rút cuộc không có công trạng thực tế, thì cứ quan địa phương mà hỏi tội. Nếu quan địa phương đã sắm sửa dụng cụ chiến đấu cho thuyền quân đầy đủ, tất cả bọn bộ biền phái đi cũng đã dạy bảo dặn dò, mà bọn bộ biền vẫn e ngại khó nhọc, tuần thám bất lực, gặp giặc vẫn không bắt được, thì rõ ràng là hèn kém, dù trăm miệng cũng không chối được. Quân pháp nhà nước rất nghiêm. Đến khi ấy trẫm chỉ giữ pháp luật mà làm việc, dứt khoát không rộng giảm nhẹ một chút nào.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau đó bộ Binh nghiên cứu, được vua Minh Mạng chuẩn y: “Bình Thuận trở ra bắc đến các đồn biển ở ven biển Quảng Yên, phàm những nơi hai đồn biển tiếp giáp nhau thì đều dựng cột mốc trên bờ biển, ghi rõ phía nam thì thuộc về đồn biển này, phía bắc thì thuộc đồn biển kia. Lại nơi hải phận hai tỉnh tiếp giáp nhau cũng nên hội đồng ra cột mốc rõ ràng, hàng năm cứ tháng giữa xuân đến tháng giữa thu, thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái đều nên trước kỳ chuẩn bị các hạng súng qúa sơn, thần công và súng trường, cùng thuốc đạn, giáo dài, mác sắt, câu liêm, ống phun lửa, cầu đinh lửa, pháo thăng thiên, cho đến quả đá, kim từ thạch, phàm tất cả dụng cụ thủy chiến. Lại đem theo một chiếc kính thiên lý để phòng khi đi thuyền nhìn ngắm. Bộ biền Kinh phái thì được lĩnh 3,4 tháng lương thực. Bộ biền tỉnh phái cũng được lĩnh 1,2 tháng lương thực, đều tùy tiện chia tải để đủ quan dùng. Thuyền đi tuần của các đồn biển thì xét theo hải phận của các đồn biển mà qua lại tuần thám. Mỗi khi đi tuần phải qua chỗ cột mốc giáp nhau mới được trở về. Thuyền đi tuần của tỉnh phái, thì xét theo hải phận của tỉnh mà tuần thám. Khi đi thuyền thì phía nam cần phải đến chỗ cây cột mốc ghi địa giới tỉnh, phía bắc cũng cần đến chỗ cây cột mốc ghi địa giới tỉnh, tổ chức qua lại, chắp nỗi những quãng thuyền di tuần của các đồn biển mà đôn đốc họ. Nếu thuyền đi tuần ở hải phận đồn biển nào mà sơ suất bỏ trỗng, thì lập tức bẩm tỉnh nghiêm hạch để trừng phạt. Thuyền đi tuần do Kinh phái thì có hai đoàn Nam và Bắc. Mỗi đoàn phái đi đến 4, 5 chiếc, chia làm 2 chuyến, mỗi chuyến cách nhau 3, 5 ngày, đại khái chuyến trước đến giữa hải phận, thì chuyến sau mới từ đầu hải phận ra đi, chuyến sau đến giữa hải phận thì chuyến trước mới từ cuối hải phận trở lại. Lần lược qua lại trong khoảng thuyền đi tuần của hải phận tỉnh và hải phận các đồn biển mà đôn đốc tất cả. Đi qua tỉnh mà mà không thấy thuyền tuần tra của tỉnh, thì lập tức báo cho tỉnh để tham hạch trừng phạt. Thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái, ngày nào hiện đi qua hải phận của đồn biển nào, đều phải lấy chữ biên ký của đồn biển ấy để phòng khi tra xét. Trừ những ngày sóng gió thuyền không thể đi được, còn các thuyền ấy đều phải đi chóng về chóng, không được tự tiện chần chừ đỗ lại ở chỗ nào. Khiến cho trên mặt biển thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái, liên tục theo nhau. Nếu gặp thuyền giặc thì lập tức đuổi bắt. Ban ngày thì bắn 3 phát đại bác, ban đêm cũng bắn 3 phát đại bác và bắn 5 chiếc pháo thăng thiên làm hiệu. Phàm xa gần nghe thấy thì lập tức khẩn cấp tiếp viện. Nếu thuyền giặc nhân gió bỏ chạy thì lấy thuyền nhanh nhẹ mà đuổi theo [74, 432].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các vua Nguyễn đặc biệt quan tâm tới việc vây bắt bằng được thuyền bọn cướp để trị tội. Nhà nước qui định: “Nếu bắt được thuyền giặc hạng lớn như lần ấy đã gặp thì định thưởng 1000 quan tiền. Nếu bắt được thuyền hạng kém thì cho thưởng 500 quan tiền để chia đều, tỏ sự khuyến khích. Nếu là thuyền buôn chở đầy hàng hóa đi buôn bán, thì không được mượn cớ quấy nhiễu, sẽ can tội nặng [74, 432-433]. Ngược lại nếu để giặc biển tiếp tục quấy phá, đánh cướp thì sẽ trị tội rất nặng. Chúng ta dễ nhận thấy điều đó ở cuối mỗi chỉ dụ ban ra: “Không được xem là đã có thuyền binh mà có chút đun đẩy. Nếu một khi có giặc biển lẻn lút nổi lên, thì lập tức đem bộ biền của tỉnh ấy phái đi theo mức nặng mà trị tội”. Tuy nhiên trên thực tế, chống cướp biển là việc làm khó khăn nên việc xét tội cũng không phải dễ, bởi “giặc nổi lên trên mặt biển, số lần có nhiều ít không giống nhau, mà tình hình các viên biền đi tuần thám gặp giặc cũng khác” [74, 433]. Bộ Binh bàn định, được chuẩn y: “hải phận nào giặc nổi lên một lần mà viên tấn thủ và bộ biền hoặc sơ suất không nghe biết, hoặc là xét bắt không nhanh, để đến nỗi bọn giặc chạy thoát được thì đem viên thủ ngự ở hải phận sở tại giáng 4 cấp; quản vệ, quản cơ do tỉnh phái đều giáng 2 cấp, suất đội đều giáng 1 cấp. Nếu đi tại đấy không có quản vệ, quản cơ, mà suất đội là người chuyên trách thì điều giáng 2 cấp. Còn như thuyền binh Kinh phái đi qua ở hạt ấy mà không biết đánh dẹp thì quản vệ cũng đều giáng 2 cấp, suất đội đều giáng 1 cấp. Nếu đã đi qua hạt khác, mà đối với nơi giặc cướp xảy ra, tính về đường biển xa cách, không thể nhìn ngó đến được thì được miễn bàn. Nếu xét ra có chậm trễ ở chỗ nào mà đến nỗi tuần phòng sơ hở thì lập tức trị về tội chậm trễ. Lại như Đề đốc, Phủ doãn, Phủ thừa ở Thừa Thiên, Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát lãnh binh ở các tỉnh ai là người ra biển đi tuần xét, mà có giặc nổi lên thì đều giáng 2 cấp. Còn các viên ở lỵ sở cũng đều giáng 1 cấp để tỏ sự phận biệt. Nếu giặc nổi lên ở hải phận hai đồn biển tiếp giáp nhau, thì xét về hai viên tấn thủ đều giáng 2 cấp, bộ biền do tỉnh phái đi cũng đều giáng 2 cấp. Viên tỉnh lại đều được nghĩ xử giảm một bậc. Các viên nhân đáng giáng cấp kể trên, điều cho lưu chức. Nếu lại có giặc nổi lên, chồng chất đến 2 lần hoặc 3,4 lần thì một lần đều theo như thế mà xử trí. Ai có cấp kỷ (có thành tích đã được cấp kỷ lục) thì cho được xét trừ. Nếu không có cấp kỷ để khả dĩ trừ được mà kê hết số cấp bị giáng qúa nhiều thì nghi giáng lưu chức để xem công hiệu ngày sau. Đợi khi xong việc tuần thám, có thực trạng cố gắng hay không, lại sẽ tâu rõ để làm việc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những khoản xử trị trên đây là chỉ về người sơ suất, lười biếng mà nói. Nếu có người ngay khi giặc nổi lên mà hết lòng đuổi bắt, cũng không bắt được bọn giặc kết án, nhưng cũng cứu được thuyền buôn không bị mất gì thì cũng miễn bàn. Nếu thấy giặc mà không chịu đuổi đến cùng, tìm nơi ẩn nấp, và lại có ý thụt lùi, cùng là các khoản nặng về làm lầm lỡ quân cơ, đến khi xét ra sự trạng thế nào thì lập tức theo luật nghị xử [74, 433-434].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thiệu Trị năm đầu (1841), ban dụ: “một khoản đi tuần biển, trước đã dụ cho trấn thủ các sở phía nam, phía bắc và các tỉnh phái cho thuyền binh qua lại tuần thám rồi. Nay căn cứ Nghệ An tâu báo, hải phận cửa Quèn thuộc hạt ấy lại có giặc người Thanh nhân sơ hở lẻn lút nổi lên. Thật là quái gở. Nên phái thuyền chiến lập tức đi lùng bắt, cho hết giặc biển... trước tiên bắt lấy thuyền giặc kết án, để chờ thưởng hậu. Lại chiếu theo đường biển từ Nam Định đến Quảng Nam, Quảng Ngãi, qua lại tra xét cho hết giặc biển. Nếu tìm bắt bất lực, để cho bọn giặc ấy lại được đậu trên biển gây việc, thì dứt khoát khó chối được lỗi nặng. Những quan binh phái đi lần này, xét từ quản vệ trở xuống đều cho thưởng 1 tháng tiền lương. Còn như dự chi tiền lương lĩnh tiếp, cho chiếu theo lệ trước mà làm” [74, 435-436].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thiệu Trị Năm thứ 2 (1842), dụ rằng: nay khí trời quang tạnh, đường biển thuận tiện, chính là thời tiết thuyền buôn qua lại, nên phải liệu phái thuyền binh đi tuần thám cho nghiêm vùng biển... Lại truyền chỉ cho Thừa Thiên đến Bình Thuận, và phía bắc đến tỉnh Quảng Yên, cũng theo chương trình đó, nghiêm sức cho các tấn thủ trong hạt đều phái thuyền binh đi tuần biển, chiếu theo hải phận, làm việc cho đúng đắn, không được nói suông theo lối cũ, đợi đến thời tiết mưa lụt đều sẽ rút về. Những quan binh được phái đi đều thưởng cho nửa tháng tiền lương" [74, 436].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thiệu Trị năm thứ 3 (1843) ban dụ rằng: “căn cứ Quảng Nam tâu báo tình hình, có hơn 20 chiếc thuyền giặc người Thanh đi đến đảo Chiêm, kháng cự thuyền tuần, cướp lấy khí giới. Nên nhanh chóng phái binh đến dập tắt cho yên vùng biển. Lại cho bộ phi tư cho các chiếc thuyền đi tuần về phía nam do Kinh phái đi, nhanh chóng chạy lại đảo Chiêm, ngăn chặn đường đi của thuyền giặc ấy. Đầu đuổi đánh kẹp lại, mong cho sớm dẹp yên giặc biển, cho giặc biển được yên ổn mãi mãi” [74, 436, 437].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có sự liên kết cùng bắt bọn cướp biển, như bản tâu của Tuần phủ Quảng Ngãi năm 1839: “giặc biển trước đậu ở đảo Chiêm, hiện đã chạy trốn. Nay lại chuyển đến đảo Nam Châm ở tỉnh Quảng Ngãi, lãng vãng trên mặt biển (theo lệnh) đã đôn đốc các thuyền Kinh phái, tỉnh phái chạy đi hội quân cùng đánh. Chính cơ hội này hợp nhiều binh lực, thì tin chắc bọn giặc ắt phải bị bắt. Vậy cho bộ phi tư cho các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Ngãi phái thuyền ở đồn biển đón báo cho các viên biền ngồi ở chiến hạm Viên Uy, Thanh Dương, An Dương, Tỉnh Dương đương tiến về Kinh, phàm khi giặp bọn giặc thì ra sức đánh dẹp, đến thẳng đảo Nam Châm thuộc tỉnh Quảng Ngãi, hội quân cùng đánh, tập hợp bao vây, cốt đem bọn giặc biển bắt hết, bắn hết, kết liễu vụ án, để giúp người đi buôn ngoài biển và mặt biển được yên ổn [74, 437]. Lại ban dụ rằng: “Xét ra ngày trước hơn 20 chiếc thuyền giặc chợt đến đảo ấy gây việc, một khi bị chiếc thuyền lớn Thanh Loan đuổi đánh, bắn phá thuyền giặc ấy lật chìm 2 cái, bọn còn lại theo chiều gió chạy trốn. Nay còn giám nhân sơ hở trở lại như thế, cần phải phái thuyền binh hội lại cùng đánh... lập tức đem bọn giặc ấy đánh giết thật dữ” [74, 437].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tự Đức năm đầu (1848) ban dụ rằng: “nay khí tời quang tạnh, đưởng biển thuận tiện, chính là thời tiết thuyền buôn qua lại. Nên phái thuyền binh đi tuần thám, cho nghiêm vùng biển… tất cả đều sửa sang thuyền binh, nhận lĩnh khí giới, thuốc đạn, ống phun lửa, vũ khí chiến đấu và kính thiên lý, đầy đủ. Cho đến đầu tuần tháng 2 từ cửa Thuận An nhân gió ra khơi. Phàm tất cả công việc tuần tra như thoi dệt, cốt mong cho giặc biển yên lặng… Những biền binh Kinh phái thưởng cho tiền lương nửa tháng. Công việc dự chi lĩnh tiếp thì cho đều theo lệ trước mà làm” [74, 437-438].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tự Đức năm thứ 3 (1850), ban dụ rằng: “Một dải đường biển của các hạt từ Quảng Nam trở về phía nam đến tỉnh Biên Hoà cũng khá rộng. Gần đây giặc người Thanh phần nhiều lảng vảng trên mặt biển, nhân sơ hở lẻn lút nổi lên, thường gây ngang trở cho thuyền buôn. Cần phải phái nhiều thuyền binh đi tuần thám, lần lượt đã phái 3 chiếc thuyền đồng Điện Phi, An Hải, Điềm Dương chia đường theo từng hạt mà tuần phòng... Lại truyền chỉ cho Quảng Nam phái nhiều thuyền binh, xét theo hạt mình mà lưu tâm tuần thám. Phàm gặp thuyền dị dạng của người Thanh lảng vãng ở ngoài biển, thì lập tức dũng cảm đuổi theo, trong ngoài vây bắt. Nếu đem thuyền giặc ấy đánh giết không để sót, hoặc bắt chém kết án, thì ắt có thưởng hậu. Nếu coi thường rồi cứ đậu yên, nói suông cho xong việc để cho bọn giặc ấy lại đậu trên biển lẻn lút nổi lên thì ắt trị tội nặng không tha” [74, 438].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài kiểm soát thuyền buôn, thuyền đánh cá và tiễu trừ giặc biển thì một hoạt động đáng chú ý là chú trọng vào đối tượng tàu thuyền nước ngoài, đặc biệt là những tàu có quốc tịch phương Tây như Pháp, Anh. Năm 1830, qui định ở tấn Đà Nẵng: "các thuyền nước ngoài như thuyền cử nước Pháp, nước Anh đến đậu ở tấn ấy, thì phải báo trước. Cấm nhân dân ở tấn và nhân dân ở địa phương ấy không được tự tiện riêng tây đi lại dắt díu với họ hoặc đến nỗi gây ra sự việc" [74, 417].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một trong những nguyên nhân tuần tra kém hiệu quả được nhận định qua lời dụ năm 1838, “gần đây giặc bể thường cướp các thuyền buôn đều bởi bọn người đi tuần tiễu sợ hãi sóng gió mà không giám ra xa, để bọn giặc tàu tung hoành cướp chán rồi đi, hơn nữa thuyền nhà vua phái đi như chiếc thuyền khỏa đồng (bọc đồng) và các thuyền hiệu chữ Bình chữ Định đều lớn mà nặng không đi được nhanh, chiếc thuyền Ô, Lê thời lại qúa thấp nhỏ gặp giặc không tiện đuổi xa, vùng bể không được yên tĩnh cũng bởi nguyên nhân kể trên [94, 267]. Từ đó, với mong muốn dẹp yên giặc biển, vua Minh Mạng chuẩn: “cho bộ Binh châm chước bàn định, việc tuần tiễu ở ngoài bể nên như thế nào thời định rõ chương trình. Lại chuẩn cho Công bộ suy tính để đóng các thuyền đi tuần như thế nào cho được nhẹ nhàng thuận tiện”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau Binh bộ tâu lên: “từ tỉnh Bình Thuận trở sang đàng bắc tới tỉnh Quảng Yên, những chỗ cửa bể đã có đồn canh đều theo địa phận tuần phòng, còn những nơi hai cửa bể có đồn canh mà hai tỉnh giáp nhau đều do quan tỉnh theo trên bờ để dựng nêu viết rõ phía nam thuộc cửa bể này, phía bắc thuộc cửa bể kia. Chỗ hai tỉnh giáp nhau cũng hội đồng cắm nêu để làm dấu, hàng năm giữa mùa xuân đến giữa mùa thu thuyền đi tuần do Kinh đô phái đi đều dự bị chiến cụ và thiên lý kính. Những thuyền đi tuần ở các cửa bể có đồn canh thời theo địa phận tuần tiễu. Những thuyền đi tuần ở tỉnh phái đi thời cứ hải phận ở tỉnh mình mà đi lại đốc suất. Thuyền đi tuần ở Kinh phải phân hai để luân phiên đi lại, khiến cho nơi hải phận đều liên lạc với nhau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một khi gặp thuyền gặc thời tiến lên để đuổi bắt, thuyền giặc chạy thời đem chiếc thuyền kiểu mới nhẹ nhàng để đuổi. Nếu im sóng lặng gió thời đem thuyền Ô- lê hay thuyền khinh khoái để đuổi. Đến thời kỳ đi tuần ngoài bể, thời các địa phương dọc theo bờ bể phải chiểu trong hạt mình những đạo nào bãi nào trước đây giặc người nước Thanh thường ẩn nấp, thời cho lính đi trước để đóng giữ hay là vát lấy chiếc thuyền “đại dịch” để lính chở đi, mà mang theo khí giới giả trang là thuyền buôn tùy chỗ đóng lại, khiến thuyền giặc nhận nhầm là thuyền buôn mà đến ăn cướp, thời lập tức xông ra nã bắt như thế thì giặc bể có thể yên được” [94, 268].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tóm lại công tác tuần tra được tiến hành thường xuyên và liên tục trên biển. Cũng không câu nệ là thuyền nhà nước hay của địa phương, quân chính qui hay dân thường đều sung vào việc tuần tra nếu thấy có hiệu quả; “các viên lần này phái đi tuần thám, nếu có người nhà hoặc thuộc binh, thủ hạ, người nào khỏe mạnh, dũng cảm, bắn giỏi đều nên đem theo để giúp việc sai khiến và chiểu theo lệ lương của binh đinh” [74, 435]. Và thật không khó để tìm những dẫn chứng về điều này bởi nó là điều hiển nhiên. Sách &lt;em&gt;Thực lục&lt;/em&gt;, &lt;em&gt;Hội điển&lt;/em&gt; của nhà Nguyễn có rất nhiều những thông tin tuần tra mà chúng ta có thể tham khảo [74, 417-439].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với mong muốn giữ yên mặt biển dưới thời Nguyễn việc tuần biển rất được quan tâm, thể hiện qua rất nhiều chỉ dụ, phân phái rất nhiều binh thuyền thường xuyên tuần thám mặt biển đến khi nào “trông vào không thấy bờ”, tuần tra liên tục “khiến cho trên mặt biển thuyền đi tuần của Kinh phái, tỉnh phái, liên tục theo nhau. Nếu gặp thuyền giặc thì lập tức đuổi bắt”... Tuy nhiên tuần tra phát hiện giặc biển thì rất nhiều mà việc đánh dẹp thì không phải bao giờ cũng thu được kết quả tốt đẹp, thậm chí nhiều lúc thể hiện sự bất lực trước một lực lượng cướp biển vừa nhiều, có tổ chức và có phần táo tợn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3.4. KIỂM SOÁT TÀU THUYỀN RA VÀO&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với một bờ biển rộng dài thì việc kiểm soát tàu thuyền ra vào là hoạt động quan trọng, thường xuyên dưới triều Nguyễn. Thuyền công, thuyền tư, thuyền trong nước và thuyền nước ngoài đều phải quan tâm kiểm soát không ngoài mục đích an ninh và kinh tế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các cơ quan có liên quan như ty Hành nhân, Tào chính và nha Thương Bạc ngoài việc chuyên môn còn có chức năng “quản chế ngoại thương”. Theo tác giả Đỗ Bang [9], với hệ thống quản chế chặt chẽ “nên không một thuyền buôn nước ngoài nào tự ý ra vào buôn bán để tránh thuế và tránh sự kiểm soát của nhà nước” [9, 96].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 12-1835, Minh Mạng sai “cấp đồ nhung phục cho quan Quảng Thủy để dùng mặc khi có sai phái và xét hỏi các tàu buôn ngoại quốc” [29, 256].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc quy định tàu phương Tây chỉ được đến buôn bán ở Đà Nẵng, không được lập cơ sở buôn bán trên đất liền cũng không ngoài mục đích là để dễ bề kiểm soát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tàu phương Tây đến cảng biển Việt Nam luôn được dành sự quan tâm đặc biệt, năm Minh Mạng 18 (1837), ban dụ rằng: "tấn Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam là nơi bờ bể quan trọng ở gần Kinh kỳ, tàu thuyền nước ngoài qua lại, quan hệ không phải là nhỏ. Vậy chuẩn định: từ nay phàm tàu thuyền nước ngoài bất kỳ đến khu tấn Đà Nẵng mà đậu nhờ, thì không kể là dấu hiệu nước nào và là kiểu thuyền gì, viên tấn thủ tấn ấy phải tự đến hỏi rõ tình hình. Nếu là việc quan trọng, thì lập tức làm tờ tâu do đường trạm phi ngựa dâng lên, hoặc do lệ tối khẩn phát trạm đưa vào tâu. Còn các công việc tầm thường, cũng lập tức kể đủ duyên do tư vào bộ để chuyển tâu, khiến trẫn sớm được biết hết tình trạng, điều ấy rất là quan trọng. Cần phải hết sức cẩn thận" [74, 417-418], [PL 17].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài Đà Nẵng là nơi đón tiếp tàu phương Tây, để đề phòng tàu phương Tây có thể đến cửa biển khác khó đối phó, tháng 5 năm 1835, Minh Mạng truyền dụ cho các tỉnh Quảng Nam, Bình Định, Khánh Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Gia Định: “từ nay phàm các thuyền của Tây dương đến đỗ ở tấn phận nào thì viên tấn thủ ở cửa biển ấy đem thông ngôn hoặc người nhà Thanh biết tiếng Tây dương đến tại chỗ xét hỏi lý do đến và xem xét hình dáng, màu sơn, cờ hiệu, số người ở trong thuyền nhiều hay ít, thuyền đó là thuyền buôn hay thuyền chiến. Nhất nhất ghi rõ, lập tức báo tỉnh. Nếu thuyền buôn thì theo lệ thường mà làm (tức bảo đến Đà Nẵng- Tg); nếu là tàu chiến thì một mặt phi tấu, một mặt sai phái binh thuyền canh phòng nghiêm ngặt ở tấn phận và phi tư cho tỉnh láng giềng phòng bị. Thuyền ấy đi ngày nào, hoặc vẫn đóng lại làm việc gì, cũng cho phép tiếp tục tâu lên để biết rõ tình trạng” [82, 770].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đề phòng kiểm soát, ngăn chặn sự gian trá, trà trộn. Minh Mạng năm thứ 11 (1830), ban chỉ: "Từ nay về sau, phàm [tàu nước ngoài] đến buôn ở các địa phương, phải có hàng hóa mới cho vào cảng, không cho nói ỷ vào việc đưa thuyền không đến đón khách để ngăn tình tệ gian trá. Ai trái lệnh thì nghiêm trị không tha" [74, 417].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 12 năm 1835 Minh Mạng qui định chặt chẽ việc kiểm soát tàu thuyền phương Tây như: “khi đến đậu phải xét hỏi trong tàu có bao nhiêu người, đăng ký rõ ràng, bẩm lên thượng ty, mới cho lên bờ, mua bán với các cửa hàng chợ búa gần đó, nhưng phải nghiêm việc phòng bị, không cho ở tản mát nhà dân, mua bán xong rồi lại điểm đủ số người, đuổi ra biển không cho một người ở lại” [82, 838].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thiệu Trị năm thứ 5 (1845), qui định về kiểm soát tàu thuyền nước ngoài được như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Thuyền các nước ngoài đến có chạy vào khu tấn, thì trước khi sắp đến hải phận tấn này, phải kéo cờ hiệu lên để tiện ghi nhận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi thuyền nước ngoài mới vào tấn đậu lại, tiếp được viên tấn thủ uỷ người đến gạn hỏi, thì phải đem ý kiến tới đấy đáp lại rõ ràng. Nếu có bắn súng mừng thì đài trên thành cũng bắn 3 phát đáp lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi thuyền nước ngoài đậu lại, nếu chỉ lấy củi lấy nước thì cho vào lấy ở nơi gần bờ, lấy củi thì phải lấy ở núi Trà Sơn, gánh nước thì phải gánh ở chợ Hàn. Không được di tản vào làng xóm. Một hai ngày lấy xong thì chở đi, không được ở lâu để gây việc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuyền nước ngoài nếu muốn lên chợ ở trên bờ, tìm mua thức ăn thì cũng không cấm, nhưng chỉ cho đi trong số 10 người. Không được đi qúa nhiều và không được mang theo binh khí, súng trường, lên bờ để bắn càn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuyền nước ngoài đến đậu lại để buôn bán, thì khi báo cáo hàng hóa, phải đem cả số người đáp theo trong thuyền và các số súng ống, khi giới là bao nhiêu, khai bẩm minh bạch, do viên tấn thủ kiểm điểm đích thực, ghi chép rõ ràng, kể rõ nguyên do chuyển bẩm và cho lên bờ tùy nơi gần tiện chợ mà buôn bán. Xong việc, lại kiểm soát kỹ lưỡng rồi cho về thuyền. Không được ngầm ở lại trong nhà mọi người. Nếu ai trái lệnh thì lập tức bắt giữ, chiểu theo luật "kẻ nước ngoài vào cõi" mà xử tội chém đầu. Còn người cho bọn ấy ngần ở, thì cũng xét tội như kẻ phạm pháp kia.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những thuyền con đi theo thuyền lớn, nếu nhân có việc mà chạy đến thì chỉ cho đến chỗ bến nơi tấn thủ mà thôi, không được vượt qua.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuyền nước ngoài đến đậu ở cửa tấn không được đi lại riêng với người ta, ngầm thông tin tức và không được cho người ta đến thuyền, để đến nỗi gây ra chuyện" [74, 418-419].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với tàu thuyền trong nước, việc qua lại nơi đò ải, cửa biển, nhà Nguyễn có qui định cụ thể. Ở đây chúng tôi chỉ lược trích những thông tin chủ yếu:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Mạng năm thứ 20 (1839), qui định: “Hai cửa ải Hải Vân, Quảng Bình là nơi quan trọng, gần Kinh kỳ. Từ trước đến nay đặt người trấn thủ, kiểm soát rất nghiêm. Nhưng kẻ trốn tránh hoặc có đi thuyền qua lối khác, đến nỗi cửa ải không thể kiểm soát vào đâu được.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xét Quảng Bình từ bến đò thôn Động Hải, chuyển ra cửa biển Nhật Lệ, do đường biển vào cửa biển Linh Giang, Quảng Nam từ bến đò Thanh Khê do đường biển đến thẳng bến đò trạm Thừa Phúc phủ Thừa Thiên, hai bến đò ấy vốn không đi qua cửa ải và đồn biển. Từ trước vốn không đặt bến đò ở đấy, chỉ là chủ thuyền xoay kiếm nhiều lợi, mà hành khách cũng cẩu thả tránh sự khó nhọc, đến nỗi kẻ giam manh nhân thế mà được lẻn qua nơi ấy. Nay đều cấm chỉ. Vẫn do hai đồn biển Hải Vân, Nhật Lệ xét hỏi nghiêm ngặt" [74, 421].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 10 năm 1835, vì quan tỉnh tâu báo chậm nên Minh Mạng qui định: "Từ nay, phàm thuyền nước ngoài đến ở vụng Trà Sơn, nếu là thuyền chiến hoặc có sự tình gì khác thì chuẩn cho viên coi tấn phận Đà Nẵng lập tức một mặt tâu lên, một mặt báo tỉnh. Quan tỉnh lại căn cứ vào tin báo, tiếp tục tâu trình. Còn thuyền buôn đến đỗ thì viên coi tấn phận phải hỏi rõ, rồi tâu lên và đệ trình lên cả cái đơn kê hàng hóa ở trong thuyền. Quan tỉnh chỉ căn cứ theo tờ báo cáo của tấn phận mà tư lên bộ để lưu chuyển, không cần phải tâu" [82, 796].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những hoạt động kiểm soát tàu thuyền ra vào cửa biển chính là việc trực tiếp tiếp cận để xét hỏi tàu thuyền lúc cập cảng để tùy nghi xử lý, như tháng 12-1836, tàu binh nước Pháp vào đậu tại hòn Mỏ Diều thuộc tỉnh Quảng Nam. Khiến người ra hỏi, họ trả lời rằng: “tàu ở thành Tu Lông, đức quốc trưởng khiến đi thao diễn đàng biển đã hơn 1 năm; nay từ Mã Cao trở về, xin ở lại một vài ngày để lấy củi”. Qua ngày mai, bắn một phát súng lớn rồi chạy đi” [29, 265].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tấu ngày 30-7-1848: Tổng đốc Quảng Nam- Quảng Ngãi Nguyễn Lương Nhàn, khâm phái Tôn Thất Thường báo cáo về việc xét hỏi chiếc thuyền buôn của người Pháp tên là Y Đóa chở hàng tới xin bán ở Đà Nẵng [120, 16].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tấu ngày 6-2-1849, bộ Lễ báo cáo về việc, “ngày 31-1 thuyền Pháp vào Đà Nẵng- Quảng Nam, lấy cớ là để tìm kiếm nạn nhân và xin cấp giấy tờ. Quan chức tỉnh đó đã sai Lê Chính Thuỳ và Cai đội Vũ Dũng mang giấy tờ đến cho thuyền ấy, Vũ Dũng đã tự tiện một mình xuống thuyền, nói chuyện với thuyền trưởng và xin sách đạo. Lê Chính Thuỳ phải trách mắng, ngăn cản mới trả lại sách đạo nhưng Vũ Dũng lại ngầm lấy 15 lá cờ của Pháp. Cai đội Vũ Dũng trước đã can tội ngầm theo đạo Gia tô, nay lại coi thường luật pháp, tự do giáo thiệp với người Âu. Xin giao Vũ Dũng cho bộ Binh tra hỏi và xét xử” [120, 21].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên thực tế hoạt động kiểm soát cũng không tránh khỏi những hạn chế. Có khi quan phụ trách không tâu báo một tàu Pháp vào tránh gió, người phụ trách bị phạt: "lúc ấy tàu Pháp bị gió, ghé vào tránh gió rồi đi không có ý gì. Sao đã cho người ra hỏi lý do rồi mà không tâu lên, chỉ nói qua loa cho xong việc?. Tên Nguyễn Đức Chung làm việc sơ lược, phạt bổng 3 tháng để răn tội" (tấu ngày 3-7-1841) [22, Thiệu Trị, tập 6, 76]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Châu bản" cho biết, ngày 27-6-1838, Lãnh binh Quảng Nam và Thủ ngự Đà Nẵng Trương Hữu Xuân tâu: "sáng nay có tàu ngoại quốc đỗ tại hòn Mỏ Diều ở ngoài biển, Trương Hữu Xuân và thơ lại Nguyễn Chiêm Lượng ra xét. Khi có quân binh dụng đầy đủ tại thuyền. Ra hỏi thì không có thông ngôn nên không hiểu tiếng nói. Xét thì đó là thuyền binh, thấy cờ như thuyền của nước Phú Lãng Sa (Pháp), có ba cột buồm, mỗi cột 4 tầng, có chừa cửa súng 52 lỗ. Thuyền dài ước 13 trượng (khoảng 52m), rộng ước 3 trượng, súng đại bác 52 khẩu, súng độ kim 8 khẩu, súng điểu thương 400 cây, gươm đao 100 cây, số người hơn 400. Trong kho, đồ đạc không kiểm được" [22, Minh Mạng, tập 64, 30].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay lập tức Minh Mạng cử Đào Trí Phú và Lý Văn Phức vào Đà Nẵng xét, phái đoàn này có báo cáo: "Tuân dụ tới Đà Nẵng thương thuyết với thuyền Phú Lãng Sa nhưng chủ thuyền tên Lập Lạc nói đi các nước để thao diễn, không phải đi về quốc sự. Thuyền chỉ đậu lại vài ngày để mua củi, nước, thực phẩm và sửa dây buồm. Chúng tôi có mời lên công quán nhưng họ không lên vì không phải đi việc công, cho nên không giám lên. Phái viên hỏi sao đổi hiệu cờ, chủ thuyền cho biết đã đổi từ lâu, nhiều nước đã biết và xin vài ngày nữa sẽ ra đi" [22, Minh Mạng, tập 71, 106].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào thời Thiệu Trị, cũng xảy ra trường hợp tương tự, khi thuyền Pháp nhổ neo ra đi, thủ ngự còn mang lính đi thuyền theo dõi để đề phòng: "Trước đây đinh thuyền Phú Lãng Sa đậu tại dương phần cù lao Mỏ Diều cửa Đà Nẵng. Tôi đã dâng sớ tâu lên. Hôm nay vào khoảng giờ Tỵ, thuyền ấy nhổ neo ra khơi, tôi liền sức Thủ ngự Võ Văn Hóa đem lính lệ đi thuyền theo dõi để đề phòng. Thấy thuyền ấy theo chiều gió đông thẳng ra khơi, đi xa không thấy bóng buồm" (tấu ngày 17-2-43) [22, Thiệu Trị, tập 25, 30].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời Tự Đức cũng lại như vậy. Bản tấu ngày 19-1-1849 cho biết, “Tuần phủ Bình Định Lê Nguyên Trung báo cáo về việc một chiếc tàu thủy chạy bằng động cơ của một nước Tây Âu vào đậu ở hải phận thuộc cửa biển Thị Nại ngày 18-1. Vì không có thông ngôn nên không hỏi han gì được, khi thông ngôn tới trời đã qúa tối nên lại không tiện đến hỏi. Tới giờ Tuất chiếc tàu đó đã nhổ neo chạy đi rồi. Do đó không biết được chiếc tàu đó là của nước nào, trên tàu có bao nhiêu người” [120, 20].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những sự việc trên cho thấy Minh Mạng, Thiệu Trị rồi Tự Đức đã rất quan tâm nhưng cũng cho thấy các thiếu sót: không có thông ngôn túc trực, không biết người Pháp đã thay đổi cờ “từ lâu”, không giám xét hỏi khi trời đã tối, thậm chí họ đến rồi đi mà trấn thủ không biết thông tin gì khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tóm lại để quản lý đất nước có vùng biển dài rộng, lại nhiều cửa biển, nhà Nguyễn đã có nhiều qui định để kiểm soát tàu thuyền ra vào. Đặc biệt vào thời đại phải thường xuyên tiếp xúc với các tàu thuyền nước ngoài, nhà Nguyễn đã rất lưu ý đến những tàu phương Tây. Những hoạt động ấy đã góp phần lớn vào việc nắm bắt thông tin, đảo bảo an ninh, quốc phòng và thu thuế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3.5. CỨU HỘ, CỨU NẠN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc đi biển gặp muôn vàn rủi ro không thể lường trước được, chính vì thế có rất nhiều tàu thuyền gặp nạn. Dưới thời Nguyễn, nhà nước đã có nhiều hoạt động cứu hộ cứu nạn trên biển. Có rất nhiều dẫn liệu về điều này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Giêng năm Gia Long thứ 7 (1808), “thuyền bị nạn của sai dịch nước Thanh là bọn Diệp Phương, Hoàng Phúc đậu ở cửa biển Sa Kỳ. Dinh thần Quảng Ngãi đem việc tâu lên. Vua sai cấp cho bạc lụa quần áo rồi sai đưa theo đường bộ về nước. Chủ thuyền là bọn Trần Hoan 8 người cũng cấp cho lương ăn, cho đáp thuyền buôn mà về [79, 717].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 3 -1808, “thuyền trưởng Hồng Mao là Tô Lô Xuy La Môn đáp chở hơn 500 khách buôn người Thanh bị nạn bão đến đậu ở cửa Đà Nẵng. Dinh thần Quảng Nam tâu lên. Sai cấp thuyền gạo cho tuyền buôn bị nạn rồi sai đưa theo đường bộ trở về nước Thanh. Lại thấy Tô Lô Xuy La Môn cứu giúp nạn nhân, thưởng cho 300 phương gạo rồi bảo đi" [79, 723]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 7-1809, “có 65 chiếc thuyền vận tải Bắc thành gặp gió ở ngoài phần biển Nghệ An, thủ ngự cửa Luật Hải (cửa Sót) lấy thuyền đánh cá của dân đưa dẫn vào cửa biển” [79, 760].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 8-1809, “thuyền buôn của Ngô Ngạnh là người Xiêm gặp gió bão dạt vào bến Đà Nẵng, cấp cho 200 phương gạo" [79, 761].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gia Long rất quan tâm đến việc cứu nạn các tàu công sai của nước ngoài, đó là điều không thể chậm trễ. Tháng 2- 1810, thuyền của Thiên tổng tỉnh Phúc Kiến là Tiêu Nguyên Hầu bị nạn dạt vào cửa biển Cam Ranh ở Bình Hoà, hơn một tháng trấn thần đem việc tâu lên. Vua khiển trách rằng: "sao chậm thế ?". Sai cho Tiêu Nguyên Hầu tiền 30 quan, lụa 4 tấm, vải 5 tấm, gạo 6 phương...”. Điều này được giải thích ngay trong lời dụ của Gia Long: "Thuyền nước ngoài bị nạn, việc giúp đỡ đã có lệ định. Duy Tiêu Nguyên Hầu là người công sai của nước Thanh, cho nên đặc biệt thưởng cấp thêm để tỏ ưu đãi. Các ngươi nên đem ý ấy bảo cho biết". Rồi sai gọi về Kinh, lại cho thêm 100 quan và cho đưa đi đường bộ về nước" [79, 782].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 3-1810, “thuyền buôn nước Xiêm la gặp gió dạt vào cửa Đại Chiêm, sai dinh thần Quảng Nam theo số hơn 400 người trong thuyền cấp cho 10 ngày lương ăn, rồi cho về" [79, 783].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Giêng năm 1815, “bọn sai dịch tỉnh Phúc Kiến nước Thanh là Hứa Ninh An và Lý Chấn Thị gặp bão, thuyền dạt vào đậu ở Vũng Lấm trấn Phú Yên, sai trấn thần cấp cho bạc lụa cho về nước” [79, 895].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 5-1815, “thuyền của sứ thần Xiêm La sang nước Thanh nộp thuế cống, gặp bão vào đậu ở phận biển Bình Định, khẩn xin đến Kinh chầu thăm. Trấn thần tâu lên. Vua sai thưởng mỗi người 3 tháng lương, hộ tống đến Kinh” [79, 900].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 6-1817, thuyền sứ nước Xiêm sang nước Thanh, gặp gió đậu vào Đà Nẵng. Rồi thuyền ấy lại bị cháy mất hết cả. Việc tâu lên. Vua nói rằng: "thuyền sứ giả bị cháy cũng như thuyền buôn bị nạn". Sai dinh thần Quảng Nam cấp gạo lương hơn 200 phương [79, 951].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đầu thời Minh Mạng đặt lệ cứu hộ cứu nạn. Tháng 2- 1820, “khiến các cửa biển dự chứa tiền gạo để cấp cho kẻ bị nạn gió bão, nhưng phải xét kẻ bị nạn đó đi việc công hay việc tư mà tùy cấp nhiều ít; nếu đi việc công, thời từ đội trưởng trở lên gia cấp tiền gạo gấp hai” [29, 143-144].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều này được Minh Mạng giải thích rõ hơn: “Nay đường biển gian nan hiểm nghèo, sóng gió nổi lên không lường được. Gần đây các quan quân và nhân dân, hoặc đi công tác hoặc đi buôn bán, mạo muội vào chỗ hiểm nghèo, nơi hiểm sâu đều là sự bất đắc dĩ. Hoặc ngẫu nhiên gặp nạn sóng gió, còn sống thì không nơi nương tựa, mà chết thì ai là người chôn cất. Trẫm rất lấy làm thương xót, nên truyền cho các quan địa phương giữ các cửa bể phải dự trữ tiền gạo phòng khi có người gặp nạn sóng gió, thì chiếu công tư phân hạng mà cấp phát” [92, 232].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc cứu nạn vì thế mà được tiến hành tốt hơn. Tháng 8-1826, thuyền buôn nước Anh Cát Lợi bị nạn đậu tại Bình Thuận, ngài khiến quan trấn đem tiền gạo cấp cho; rồi bọn nó có 7 người thiện tiện qua thành Gia Định, ngài khiến đưa vào Gia Định cả, chờ gió thuận đưa về” [29, 171].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản tấu của thủ ngự Đà Nẵng ngày 27-6 năm Minh Mạng 11(1830), cho biết: “thuyền buôn của tai phú Pháp Ê Đoa, thuyền trưởng Đê Ô Chi Ly, phái viên Lê Quang Quỳnh cùng thủy thủ đoàn, ngày 20 rời cảng Đà Nẵng đi Lữ Tống buôn bán. Giờ Dần ngày 27, Ê Đoa và 11 thủy thủ đi trên chiếc tam bản lớn cập cảng nói rằng: canh 2 đêm 21 ở phía tây Hoàng Sa (xứ Cát Vàng) thuyền đụng đá ngầm bị ngập nước. Thuyền trưởng và phái viên còn đi sau. Cảng đã phái thuyền đem theo nước ướng đi cứu hộ, giờ Ngọ đã gặp và đưa họ về cảng [40, 190].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc cứu nạn thường xuyên nhưng trong những trường hợp đặc biệt, Minh Mạng đã đối xử rất chu đáo, tạo mọi điều kiện cho họ như cấp phát tiền gạo, chỗ lưu trú và thậm chí cử cả phái bộ đưa người bị nạn về. Tài liệu ghi lại: “tháng 12-1836, tàu buôn nước Anh Cát Lợi qua bãi Hoàng Sa bị nạn, ghé vào bãi biển Bình Định hơn 90 người. Việc ấy tâu lên, ngài sai lựa nơi cho ở và hậu cấp tiền gạo; người chủ tàu và mấy người đầu mục ngõ bộ cám ơn lắm. Ngài sắc phái bộ Nguyễn Tri Phương đem mấy người ấy xuống tàu qua Hạ Châu đặng về Anh Cát Lợi [29, 264].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 11-1831, khiến Lý Văn Phức đi thuyền hiệu Thuỵ Long đưa mấy người bị phong nạn là Giám sinh Trần Khải, Tri huyện Lý Chấn Thanh và hơn 40 người về Quảng Đông [29, 192].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Giêng 1833, “có một chiếc thuyền quân tuần dương Quảng Đông bị gió vào vũng Sơn Chà tỉnh Quảng Nam. Quan tỉnh tâu lên, ngài ban rằng: “đó là thuyền công sai, không phải như thuyền buôn bị nạn”, khiến cấp cho 300 tiền, 300 phương gạo trắng, phái quan qua hỏi thăm và hậu đãi trâu rượu; thuyền có hư hỏng thì giúp cho, lại đem súng điểu thương, trường thương kiểu có máy tàu mỗi thứ 40 khẩu và thuốc đạn qua tuyên cấp cho” [29, 199]. Có thể nói đây là một sự quan tâm đặc biệt bởi là “thuyền công” của nhà Thanh, hơn nữa lại là thuyền tuần dương. Có thể cũng là một mối quan tâm chung trên biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến tháng Giêng năm Tự Đức thứ nhất (1848), có sự thay đổi, mỗi người bị nạn được cấp một phương gạo; “cấp cho thuyền buôn nước tàu bị gió xiêu, mỗi người một phương gạo. Ngài truyền chỉ, từ nay về sau có thuyền bị nạn, đều chiếu lệ ấy chẩn cấp” [29, 354].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày 28-5-1849, Tuần phủ Bình Thuận – Khánh Hoà Nguyễn Đăng Uẩn báo cáo về việc có một người dân nước Đô Ba (?) sinh sống ở xứ Yêm Kha (đất Xiêm La) đi thuyền độc một về thăm quê vợ ở xứ Toà Ni, giữa đường gặp nạn, phiêu bạt vào hải phận thôn Vĩnh Hảo, tổng Phú Quý, huyện Tuy Phong nước ta [120, 27].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1835, Thái Đình Lan, một nhà văn người Thanh đáp thuyền buôn từ Phúc Kiến đi Đài Loan, chẳng may gặp gió trôi dạt vào Lai Cần, thuộc bờ biển Quảng Ngãi. Mãi 4 tháng sau ông mới trở về nước. Trên chuyến hành trình ấy, ông đã cẩn thận ghi chép tất cả những gì ông gặp và sau đó được xuất bản với nhan đề "Hải Nam tạp trước" cung cấp nhiều thông tin quý. Tác phẩm này được GS. Đới Khả Lai (Trung Quốc) giới thiệu trong hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất [56].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thái Đình Lan bị dạt vào bờ biển Quảng Ngãi ngày 13-10- 1835, đến ngày 5-11 thì có “châu phê” của Minh Mạng: "người này xuất thân hàng văn sĩ, không may gặp bão lớn lâm nạn, tiền đi đường đã cạn, thật đáng thương. Lệnh cho tỉnh, ngoài việc cấp phát tiền gạo, còn gia ân ban cho 50 quan tiền, 20 phương gạo để bày tỏ ý thương xót nạn sinh thiên triều. Còn phát cho những người trong thuyền theo số mỗi người mỗi tháng cấp cho một phương gạo" [56, 320].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sách &lt;em&gt;Thực lục&lt;/em&gt; cho biết sơ lược về thông tin trên, chỉ khác là từ "Lan" ghi thành từ "Hương". GS. Đới Khả Lai cho rằng có khả năng do Lan và Hương thường hay dùng liền với nhau hoặc do quan sử chép sai hoặc do lỗi khắc chữ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi có "châu phê" của Minh Mạng, Thái Đình Lan được đối đãi tử tế, còn có ý giữ lại khi ông muốn về nước nhưng cuối cùng cũng "bịn rịn gạt lệ chia tay".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đới Khả Lai cho biết: "trước và sau khi Thái Đình Lan phiêu dạt vào Việt Nam, còn nhiều văn nhân, thương nhân, binh sĩ, quan viên và họ hàng của họ cũng bị phiêu dạt, triều Nguyễn đều sắp đặt ổn thỏa. Thương nhân được đưa gửi về bằng đường bộ, còn quan viên, văn nhân và binh sĩ được hộ tống bằng đường biển về phía bắc. Những hiện tượng này có thể nói là một biểu hiện của chính sách hữu hảo đối với Trung Quốc của triều Nguyễn" [56, 329].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng có khi thuyền gặp nạn chẳng những không được giúp đỡ mà còn bị “hôi của” trước sự làm ngơ của quan thủ ngự. Vụ tai tiếng đó diễn ra vào tháng 8-1822, ở Thanh Hóa, thuyền bị nạn của người buôn nước Thanh đậu ở cửa biển Y Bích. Thủ ngự là Phan Văn Lý dung túng cho dân cướp hàng hóa. (Sau chuyện vỡ lở, Phan Văn Lý bị tội lưu, chuẩn cho tội đồ) [80, 230].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có thể nói hoạt động cứu hộ cứu nạn những chiếc tàu không gặp may may trên hải phận Việt Nam đương thời có phần chu đáo. Trong con mắt của những người ngoại quốc được giúp đỡ lúc đó đều tỏ lòng mến phục sự quan tâm của người dân và chính quyền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Edward Brown, một thủy thủ Anh bị gió dạt vào mũi Varella (nay xác định là Vũng Rô, Khánh Hòa- Tg) nhưng không may bị hải tặc tấn công, bắt giữ. Ông trốn thoát, lạc vào Hòn Khói, nhận được nhiều sự giúp đỡ của nhân dân. Trong hồi ký của mình, Brown luôn ca ngợi lòng tốt của người Việt Nam, "Ông lấy làm hổ thẹn mà nghĩ rằng nếu như một thủy thủ người Việt chẳng may bị đắm tàu gần bờ biển Anh quốc thì chắc chắn là người đó không được giúp đỡ và ưu ái như người Việt Nam đã giúp đỡ và ưu ái ông" [45, 132].&lt;br /&gt;Tháng 12 năm 1836 sau khi cứu tàu Anh bị đắm ở Hoàng Sa, “bọn họ đều qùi dài, khấu đầu không thôi. sự cảm kích biểu lộ ra lời nói và nét mặt” [82, 1051].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 9-1845, “nước Anh Cát Lợi khiến sứ qua tạ ân (bởi vì năm ngoái tàu nước Anh gặp gió bão, trôi vào cửa biển Bình Thuận, nước mình sai quân đưa về, cho nên bây giờ qua tạ ơn). Ngài ban chiếu thơ đáp lại rất tử tế” [29, 336].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài việc chuẩn cấp lệ cứu nạn, nhà Nguyễn còn có chính sách đối với người đi biển, vì việc công nếu chẳng may bị chết trên biển thì đều chiếu cấp tiền "hậu tuất nạn gió" [74, 583-585]. Các đồn biển ngoài nhiệm vụ quan sát, phòng thủ còn làm nhiệm vụ cứu nạn thuyền công giặp gió, tìm kiếm tàu thuyền, người gặp nạn [74, 585].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rõ ràng cứu hộ cứu nạn là hoạt động có nhiều đóng góp, hỗ trợ rất nhiều cho tàu thuyền gặp nạn. Nhà Nguyễn đã làm rất tốt hoạt động nhân đạo này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;• +++ Cuộc đụng độ, gây hấn những năm 1845, 1847, 1856, 1857 ở cửa biển Đà Nẵng, Thuận An của thực dân phương Tây với quân đội nhà Nguyễn là những “va chạm” đáng lưu ý trước khi liên quân Pháp- Tây Ban Nha chính thức nổ súng tấn công xâm lược Việt Nam năm 1858.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhìn từ bên ngoài, đây là những đụng độ không lớn nhưng đối với triều Nguyễn lại để lại rất nhiều vấn đề. Cho thấy tính yếu kém và thiếu chủ động ở những cửa biển được bố trí chu đáo nhất. Nhà Nguyễn đã có rất nhiều cố gắng nhưng như thế vẫn là chưa đủ. Điều này góp phần cắt nghĩa tại sao năm 1858 nhà Nguyễn chịu thất bại ngay trận đánh đầu tiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;• +++ Trên vùng biển miền Trung đầy dẫy bọn cướp biển. Chúng hoạt động có tổ chức và trang bị vũ khí mạnh. Nhà Nguyễn đã có rất nhiều nỗ lực trọng hoạt động chống cướp biển. Nhiều tàu thuyền được phái đi tuần tiễu, qua đó phần nào giữ yên mặt biển. Tuy nhiên công tác này cũng bộc lộ những hạn chế, nhất là trong trang bị phương tiện và vũ khí. Bởi vậy cướp biển vẫn tồn tại và là mối đe dọa lớn nhất đối với tàu thuyền qua lại trên biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;• +++ Tuần tra là hoạt động quan trọng được tiến hành thường thường xuyên trên biển. Nhà Nguyễn đã tổ chức nhiều đội tuần tra: thuyền Kinh phái, tỉnh phái, các đồn biển với các hình thức phong phú, thường xuyên qua lại kiểm soát và tuần tiễu khi gặp bọn cướp biển. Cùng với hoạt động phòng chống cướp biển, hoạt động tuần tra đã góp phần giữ yên vùng biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;• +++ Để đảm bảo an ninh quốc phòng và lợi ích kinh tế (thu thuế), nhà Nguyễn đã có nhiều qui định và hoạt động kiểm soát tàu thuyền ra vào. Đó là hoạt động thường xuyên, chặt chẽ đối với tất cả tàu thuyền tới cảng biển, nhờ đó hỗ trợ nhiều cho hoạt động phòng thủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn đặc biệt lưu ý việc kiểm soát các tàu thuyền phương Tây. Đây là nhận thức và việc làm đúng đắn trong bối cảnh chung đương thời: tàu thuyền phương Tây không chỉ đến với mục đích thương mại, truyền giáo mà tối thượng là thực dân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;• +++ Nhà Nguyễn đã có nhiều hoạt động cứu hộ cứu nạn những tàu thuyền gặp nạn trên vùng biển miền Trung. Tất cả các tàu thuyền gặp nạn đều được quan tâm giúp đỡ, cấp phát lương thực, tiền bạc, có khi còn cử người đưa về nước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà nước có qui định và dự trữ tiền gạo ở các cửa biển để dành riêng cho công tác nhân đạo này. Đối với thuyền công sai của nước ngoài gặp nạn luôn có sự chuẩn cấp đặc biệt. Điều đó có ý nghĩa lớn trong hoạt động ngoại giao. Hoạt động của các địa phương cũng đã đóng góp không nhỏ cho công tác cứu nạn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;KẾT LUẬN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thông qua việc nghiên cứu tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển dưới triều Nguyễn ở miền Trung, một vùng biển có vị trí chiến lược, tác giả đã cố gắng đã trình bày diễn trình và khái quát nhất mà đề tài hướng tới. Dưới góc độ sử học, tác giả rút ra một số điểm chủ yếu sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Việt Nam có vùng biển dài rộng, với vị trí chiến lược quan trọng nên trong lịch sử rất được các nhà nước phong kiến coi trọng. Với cái nhìn đúng đắn, họ đã sử dụng biển như một ưu thế trong các hoạt động quân sự và kinh tế, khẳng định chủ quyền lãnh thổ trong một “hành trình” lịch sử (xem thêm Nguyễn Nhã, Luận án).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng nhấn mạnh: “Do nước ta có vị trí quan trọng, có bờ biển dài, nhiều sông lớn, nên từ xưa đến nay kẻ địch bên ngoài thường lợi dụng biển và sông để xâm lược nước ta. Và ở trên biển, trên sông, trong qúa trình lịch sử, dân tộc Việt Nam đã bao lần nêu cao truyền thống chống ngoại xâm anh hùng, bất khuất” [129, 37].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quả thực trong lịch sử chống ngoại xâm, Việt Nam đã lập nên nhiều võ công oanh liệt trên chiến trường sông biển. Tuy không có những lực lượng hải quân thường trực trên biển đúng nghĩa, vì không có nhu cầu giành giật thường xuyên trên biển như châu Âu nhưng các triều đại luôn coi trọng việc tổ chức phòng thủ từ phía biển. Điều này được thể hiện bằng hệ thống phòng thủ mạnh được bố trí ở các cảng biển, cửa sông quan trọng với nhiều tàu thuyền và quân đội, sẵn sàng bảo vệ lãnh thổ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Miền Trung là nơi trải qua nhiều biến cố lịch sử, cũng là nơi có phát triển của hệ thống và cách thức phòng thủ rõ nét. Chính vùng biển miền Trung đã chứng kiến nhiều chiến công oanh liệt của thủy quân chúa Nguyễn chống lại âm mưu xâm lược của tàu chiến, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh. Nguyễn Huệ đã tiêu diệt nhiều thuyền chiến châu Âu sang giúp Nguyễn Ánh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Các vua triều Nguyễn nhận thức rõ về vị thế của biển, đảo. Điều này được thể hiện rõ trong hoạt động thực tiễn [được tác giả chứng minh trong mục 2.1]. Đứng trước sự nhòm ngó của các nước phương Tây, các vua Nguyễn đã thi hành nhiều biện phòng thủ vùng biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;So với các nước châu Á khác, nhà Nguyễn đã đi đầu trong kinh nghiệm “cộng tác” với phương Tây đương thời. Điều này được thể hiện rõ nhất trong việc trang bị và huấn luyện quân đội, đặc biệt là thủy quân theo kiểu phương Tây. Nhà Nguyễn đã mua và đóng mới nhiều tàu chiến kiểu phương Tây phục vụ cho quân đội. Bên cạnh đó hệ thống thành, pháo đài, đồn cửa biển cũng được mô phỏng kiểu thành của phương Tây với ưu thế phòng thủ tối đa. Các phương tiện kỹ thuật như kính thiên lý cũng được sử dụng rộng rãi trong hoạt động phòng thủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn đã tổ chức lực lượng thủy quân theo hướng thủy quân biển. Đây là một binh chủng riêng đúng nghĩa và có thế lực trong khu vực. Bên cạnh quân đội của nhà nước thì quân ở đại phương cũng đóng góp lực lượng và vai trò đáng kể.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hệ thống thông tin liên lạc cũng góp phần quan trọng trong công tác phòng thủ. Nó đảm bảo nắm bắt thông tin nhanh chóng và chính xác từ phía biển rồi chuyển về Kinh để tùy nghi xem xét, đối phó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đánh giá đúng tầm quan trọng của cửa biển Đà Nẵng và Thuận An, nhà Nguyễn đã xây dựng nơi đây thành những căn cứ phòng thủ mạnh nhất. Bên cạnh đó, hệ thống phòng thủ ở các tỉnh khác cũng được xây dựng với mức độ khác nhau. Đây là một qúa trình xây dựng lâu dài với nhiều sức người, sức của và với mục đích tối thượng bảo vệ được quốc gia độc lập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Tuy việc trang bị, huấn luyện quân đội rất được quan tâm và kỳ vọng rất nhiều vào khả năng phòng thủ. Song khi phải đối đầu với một kẻ thù từ phương Tây thì bộc lộ rất nhiều hạn chế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngay cả tàu chiến kiểu phương Tây, vốn được đánh giá cao cũng chỉ gây thất vọng. Năm Thiệu Trị Thứ 7 (1847), “hai tàu chiến của nước Pháp đến gây sự ở cửa Hàn, phá huỷ 5 tàu bọc đồng của ta. Vua cho 4 tàu bọc đồng từ Kinh đến cứu viện cho Thủy sư Chưởng vệ và Thị lang bộ Binh chỉ huy. Vua hỏi các đại thần về tình hình ở cửa Hàn. Trương Đăng Quế tâu: "ta không lo sợ tàu Tây, nhưng ta lo sợ chính tàu của ta: cứ như bị say sóng, lúc nào cũng đậu ở bờ, nỗi lo của ta là ở đấy". Quả đúng như thế: Năm Tự Đức thứ 11, bảy chiến hạm hai nước Phú Lãng Sa, Y Pha Nho, đến đánh Đà Nẵng, thủy quân ta không được việc gì trong việc đối địch" [113, 47]. Rõ ràng tình trạng kém cỏi của thủy binh đáng báo động. Chính đại thần Trương Đăng Quế cũng nhận thấy nguyên nhân đáng sợ không phải là tàu địch mà chính là tàu của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hay hệ thống phòng thủ ở Đà Nẵng được xây dựng liên hoàn và kiên cố nhất, ngày 31-5-1845, tàu L’Alcmène chỉ mới vào vịnh đòi thả giám mục Isauropolis cũng làm cho quan quân ở đây “náo loạn tột đỉnh”. Lagrené (tác giả bức ảnh cổ nhất về Việt Nam- Đồn Hai), cho biết: “chúng tôi thả neo cho tàu đậu ở điểm phía nam, không xa hòn Mồ Côi, tức là đảo Quan Sát, ở dưới chân của pháo lũy Non Nay (Đồn Hai. Tg.) mà sự chào đón của của chúng tôi là ba phát ca nông náo nhiệt. Ngay lúc đó, tường thành của pháo lũy phủ kín quân lính vũ trang những cây dáo dài; sự náo loạn lên tới tột đỉnh; ở đây người ta lo chận cửa đi vào; đàng kia người ta lo bố trí những súng đại bác cỡ nhỏ bằng đồng lên bục bắn thành giàn hỏa lực ghê gớm, và có lẽ người ta còn giữ một số súng kiểu này ở trong kho chứa; những súng này được xem như là để bắn chéo hỏa lực của chúng với các súng ở điểm bắc của vụng Hàn”. Và chẳng có điều gì xảy ra, Lagrené có điều kiện để quan sát kỹ hệ thống phòng thủ ở đây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lagrené nêu lên thực trạng của hệ thống này: “Có lẽ người ta cũng xem là rất quan trọng đó là những đồn lũy theo mẫu đồn lũy ở vịnh Đà Nẵng, được xây dựng lên để phòng thủ lối vào của các cửa biển hoặc cửa sông chính; nhưng cái sai lầm của họ về các đồn lũy này là lớn biết bao. Trong công cuộc xây dựng những đồn lũy này họ đã không biết đến những nguyên tắc đơn giản nhất của nghệ thuật xây dựng mà hình như người ta đã có bày cho họ (ý nói những người Pháp đã giúp Nguyễn Ánh-Tg). Họ đã trở lui với hệ thống xây dựng cũ của Trung Hoa, nhấn mạnh vào cách cấu trúc một thành tròn, không có hầm hố trú ẩn, không có chiến hào đánh trả, chỉ trổ về phía biển những lỗ tròn để bố trí đại bác, mà với súng đại bác thì khó lòng di chuyển họng súng nhắm. Vả chăng, đồn lũy khác với tất cả mọi loại phòng thủ bờ biển đặt vị trí trên đất, không một lỗ châu mai. Không một lỗ châu mai cho súng đại bác có bố trí sẵn súng để bảo vệ một cái cổng bằng gỗ ọp ẹp, mà người ta có thể nhảy vào với một cũ đá là đủ sập” [27, 295-296].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bỏ qua những tiểu tiết phải tranh luận, chỉ vài thí dụ trên với cái nhìn từ bên ngoài cũng cho thấy một thực trạng phòng thủ nơi đây. Chính vì thế, trong những cuộc đụng độ với tàu chiến phương Tây trước năm 1858, hệ thống phòng thủ nơi đây không thể hiện được chức năng của mình. Họ hoàn toàn bị động và chịu phần thua thiệt ngay trong những “phép thử” đầu tiên. Những diễn biến trước năm 1858 cho thấy rằng những thăm dò của thực dân phương Tây rất lâu dài nhưng tấn công thì rất chóng vánh. Điều đó hoàn toàn có cơ ở thực tiễn từ hai phía: có “lỗ hổng” ngay trong hệ thống phòng thủ và, kẻ thù biết rất rõ về điều đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dưới triều Nguyễn, hoạt động phòng chống cướp biển cũng là điều đáng lưu ý. Hơn cả sự bất thường của tự nhiên, cướp biển là mối đe doạ và là mối lo sợ lớn nhất trên biển. Chúng đã gây nên rất nhiều vụ cướp bóc trên vùng biển miền Trung, có khi còn táo tợn chống lại quân tuần dương và nã súng vào các đồn biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để đối phó với bọn cướp biển, nhà Nguyễn đã liên tục tiến hành nhiều biện pháp được xem là tốt nhất, có thể. Tựu trung là: tăng cường trang bị thuyền tuần dương, vũ khí, quân đội. Phối hợp giữa các lực lượng cùng vây bắt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bên cạnh đó, công tác tuần tra, giám sát tàu thuyền ra vào được tiến hành chặt chẽ. Vai trò chính yếu của hoạt đông này không chỉ là bảo vệ mặt biển, giữ yên hải phận là công tác quan trọng trong việc quốc phòng mà còn cả về giao thông và thương mại. Những hoạt động này đã kết hợp với nhau để thực hiện một mục tiêu chung của nhà nước, đó là ý thức độc lập của một quốc gia có chủ quyền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Từ khi tiếp xúc với người phương Tây thì Việt Nam có thêm nhiều kinh nghiệm trong phát triển hệ thống phòng thủ, quân sự nhưng cũng có không ít rắc rối. Điều này thể hiện rất rõ vào giai đoạn sau, khi nhà Nguyễn giành độc lập đã phải đối diện ngay với âm mưu xâm lược của phương Tây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn nhận ra điều đó, họ cử tàu thuyền ra ngoại dương để “công vụ”. Theo GS. Phan Huy Lê, việc cử các tàu đi "công vụ" dưới triều Nguyễn là để "thực thi một nhiệm vụ do nhà nước giao phó, nhưng không xác định rõ là nhiệm vụ gì. Căn cứ vào nhiều nguồn tư liệu khác thì có thể hiểu "công vụ" có thể là đi mua hàng hóa, vũ khí, có thể là tìm hiểu tình hình chính trị, quân sự hay có thể kết hợp cả hai nhiệm vụ trên" [59, 445]. Và rõ ràng Việt Nam không phải là kẻ tự cô lập mình trong các mối quan hệ quốc tế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà sử học Nhật, GS. Yoshiharu Tsuboi cho rằng trong lịch sử, Việt Nam có hai đặc thù là "tính năng động và tính dễ can dự vào các khu vực quan hệ quốc tế", điều này có vẻ trái với lập luận thông thường là tính bảo thủ hay tình trạng cô lập, duy dân tộc của triều Nguyễn nhưng lại đặc biệt có lý vào giai đoạn về sau, khi ông giải thích: "khu vực quan hệ quốc tế mà Việt Nam có phần liên quan thì có hai loại: loại thứ nhất là môi trường trực tiếp và áp đảo của bán đảo Đông Dương và miền nam Trung Hoa; loại thứ hai là những mối quan hệ mờ nhạt hơn và thường xuyên thứ yếu với người khách phương xa- như Ấn Độ, Mã Lai, Xiêm, Hoa, Nhật...rồi từ thế kỷ 16 là người phương Tây" [118, 37-38].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày nay, "tính năng động và tính dễ can dự vào các khu vực quan hệ quốc tế" hẳn nhiên còn có ý nghĩa. Chúng ta cần phải hiểu hơn ai hết vị trí của Việt Nam để có biện pháp xây dựng chiến lược an ninh quốc phòng trong bối cảnh mới, cân đối giữa đất và biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;TÀI LIỆU THAM KHẢO&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;A. Tiếng Việt&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Dương Văn An (2001), Ô châu cận lục, Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc dịch chú, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;2. Phan Thuận An (2003), “Hai tiền đồn của Kinh thành Huế: Trấn Bình đài và Trấn Hải thành”, Huế Xưa &amp; Nay, (63), Tr. 58-65.&lt;br /&gt;3. Đào Duy Anh (2000), Đất nước Việt Nam qua các đời, In lần thứ 2, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;4. Đào Duy Anh (2002), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.&lt;br /&gt;5. Nguyễn Thế Anh (1972), Kinh tế, xã hội Việt Nam dưới thời các vua triều Nguyễn, Lửa Thiêng, Sài Gòn.&lt;br /&gt;6. Nguyễn Thế Anh (2003), “Điểm sách: Đóng góp vào lịch sử lãnh thổ các chúa Nguyễn tại miền Nam Việt Nam”, Nghiên cứu Huế, (5), Tr. 363-365.&lt;br /&gt;7. Đỗ Bang (1996), Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII, Nxb Thuận Hóa- Hội KHLS Việt Nam.&lt;br /&gt;8. Đỗ Bang, Nguyễn Minh Tường (1996), Chân dung các vua Nguyễn, tập I, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;9. Đỗ Bang (1997), Kinh tế thương nghiệp Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;10. Đỗ Bang (chủ biên) (1997), Tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn, giai đoạn 1802- 1884, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;11. Đỗ Bang (1998), “Đà Nẵng trong chiến lược phát triển kinh tế quốc phòng của triều Nguyễn”, Tham luận khoa học kỷ niệm 140 năm ngày nhân dân Đà Nẵng mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đà Nẵng.&lt;br /&gt;12. Đỗ Bang (2003), “Những chiến công chống ngoại xâm vùng biển thời các chúa Nguyễn”, Huế Xưa &amp;amp; Nay, (57), Tr. 66-68.&lt;br /&gt;13. Barrow (J.) (1806), Một chuyến du hành tới Đàng Trong những năm 1792-1793, Bản dịch viết tay, Khoa Sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội.&lt;br /&gt;14. Borrri (C) (1998), Xứ Đàng Trong, Nxb Tp HCM.&lt;br /&gt;15. Borri (C.) (2003), “Bản tường trình về xứ Đàng Trong”, (L. Cadière viết lời tựa), Nguyễn Cửu Sà dịch, BAVH, Tập 18, Tr. 330-552.&lt;br /&gt;16. David Bulbeck, Li Tana (2006), “Giáp Ngọ niên bình nam đồ”, Anh Vân dịch, Huế Xưa &amp; Nay, (76), Tr. 34-45&lt;br /&gt;17. Cadière (L.) (2003), “Những người Âu đã thấy Huế xưa: Mục sư De Choisy”, Nguyễn Cửu Sà dịch, BAVH, Tập 16, Tr. 239-277.&lt;br /&gt;18. Cadière (L.) (2004), “Những người Pháp phụng sự Gia Long, XI. Nguyễn Ánh và Hội Truyền giáo- Tư liệu chưa công bố”, Đỗ Hữu Thạnh dịch, BAVH, Tập 13, Tr. 5-88.&lt;br /&gt;19. Cadière (L.) (2004), “Những người Pháp phụng sự Gia Long, XII. Thư tín liên lạc của họ”, Đỗ Hữu Thạnh dịch, BAVH, Tập 13, Tr. 465-568.&lt;br /&gt;20. Nguyễn Khắc Cần, Phạm Viết Thực (2001), Việt Nam- Cuộc chiến 1858-1975, Nxb Văn hoá Dân tộc.&lt;br /&gt;21. Châu bản triều Nguyễn (mục lục) (1962), Uỷ ban phiên dịch sử liệu Đại học Huế, Tập I, Triều Gia Long; Tập II, triều Minh Mạng, Huế.&lt;br /&gt;22. Châu bản Triều Nguyễn (mục lục), Bản thảo viết tay, Triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (đến năm 1857), 122 tập, Tư liệu đề tài khoa học cấp nhà nước KX - ĐL: 94 -16.&lt;br /&gt;23. Châu bản triều Nguyễn (mục lục), tập II, Minh Mạng 6 (1825), Nxb Văn Hóa, Hà Nội.&lt;br /&gt;24. Từ Chi, Phạm Đức Dương (1996), “Vài nhận xét về cách ứng xử của người Việt trước biển”, Thông tin Khoa học Công nghệ Thừa Thiên Huế, (1), Tr. 24-26.&lt;br /&gt;25. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Dư địa chí, nhân vật chí, quan chức chí, Viện Sử học phiên dịch và chú giải.&lt;br /&gt;26. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 2, Binh chế chí, văn tịch chí, bang giao chí, Viện Sử học phiên dịch và chú giải.&lt;br /&gt;27. Cosserat (H.) (2004), “Bức ảnh chụp đầu tiên của một vị trí địa hình xứ Nam hà- Đồn lũy Nom Nay”, Hà Xuân Liêm dịch, BAVH, tập 14, Tr. 292-302.&lt;br /&gt;28. Võ Văn Dật (1974), Lịch sử Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ khoa học Lịch sử, Đại học Văn khoa Huế.&lt;br /&gt;29. Cao Xuân Dục tuyển tập (2002), Tập 1, Quốc triều sử toát yếu, Bản dịch, Nxb Văn Học, Hà Nội.&lt;br /&gt;30. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội.&lt;br /&gt;31. Nguyễn Đình Đầu (2005), Việt Nam- Quốc hiệu và cương vực qua các thời đại, Nxb Trẻ, Tp HCM.&lt;br /&gt;32. Nguyễn Văn Đăng (1989), Tìm hiểu thành phố Đà Nẵng trong các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, Luận văn Cử nhân Lịch sử, ĐHTH Huế.&lt;br /&gt;33. Nguyễn Văn Đăng (2002), “Hải Vân sơn trong sử sách triều Nguyễn”, Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế và Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển xuất bản, Tr. 50-57.&lt;br /&gt;34. Nguyễn Văn Đăng (2003), “Vài nét về ngành đóng thuyền của phương Tây triều Minh Mạng”, Huế Xưa &amp; Nay, (56), Tr. 58-63.&lt;br /&gt;35. Lê Quý Đôn toàn tập (1977), Tập I, Phủ biên tạp lục, Bản dịch, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.&lt;br /&gt;36. Lê Quý Đôn (1978), Đại Việt thông sử, Viên Sử học dịch, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.&lt;br /&gt;37. Ngô Thời Đôn (2002), "Trấn nhân tiền liệt biểu và sự lược thuật về những người phò tác các chúa Nguyễn, vua Nguyễn", Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế và Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển xuất bản, Tr. 579-585.&lt;br /&gt;38. Sơn Hồng Đức (1975), “Thử khảo sát quần đảo Hoàng Sa”, Sử Địa, (29), Tr. 181-202.&lt;br /&gt;39. Trần Thế Đức và các tác giả (1975), “Thư mục chú giải về Hoàng Sa”, Sử Địa, (29).&lt;br /&gt;40. Hải Đường (2002), “Địa danh Hoàng Sa trong châu bản triều Nguyễn”, Những vấn đề lịch sử của triều đại cuối cùng ở Việt Nam, Tạp chí Xưa &amp;amp; Nay và Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản, Tr. 190-191.&lt;br /&gt;41. Lam Giang (1975), “Hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa giữa đông hải”, Sử Địa, (29), Tr. 41-53.&lt;br /&gt;42. Võ Nguyên Giáp (1972), Chiến tranh nhân dân trên chiến trường sông biển, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội.&lt;br /&gt;43. Trần Văn Giàu (1958), Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến nhà Nguyễn trước năm 1858, Nxb Xây Dựng, Hà Nội.&lt;br /&gt;44. Hoàng Xuân Hãn (1975), “Quần đảo Hoàng Sa”, Sử Địa, (29), Tr. 7-18.&lt;br /&gt;45. Patrick J. Honey (2001), "Việt Nam vào thế kỷ XIX qua hồi ký của Edward Brown và Trương Vĩnh Ký", Trương Ngọc Phú giới thiệu và chú giải, Nghiên cứu Huế (2), Tr. 130-149.&lt;br /&gt;46. Thuận Hóa (2002), "Những cuộc đối đầu giữa nhà Nguyễn và người Hà Lan", Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam, Tạp chí Xưa &amp; Nay và Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản, Tr. 243-248.&lt;br /&gt;47. Lê Thị Thanh Hòa (1998), Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ năm 1802-1884, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.&lt;br /&gt;48. Long Hồ (1975), “Hoàng Sa và Trường Sa - Lãnh thổ Việt Nam”, Sử Địa, (29), Tr. 54-114.&lt;br /&gt;49. Hội Khoa học Lịch sử Thừa Thiên Huế (2005), Cố đô Huế xưa và nay, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;50. Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng (2000), Đô thị Việt Nam dưới triều Nguyễn, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;51. Phan Khoang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb Văn Học, Hà Nội.&lt;br /&gt;52. Khuyết Danh (1993), Đại Việt sử lược, Nguyễn Gia Tường dịch, Nxb TpHCM.&lt;br /&gt;53. Thái Văn Kiểm (1975), “Những sử liệu Tây phương minh chứng chủ quyền của Việt Nam”, Sử Địa, (29), Tr. 32-40.&lt;br /&gt;54. Nguyễn Văn Kiệm (2001), Sự du nhập của đạo Thiên Chúa giáo vào Việt Nam từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX, Hội KHLS Việt Nam và Trung tâm UNESCO Bảo tồn và Phát triển Văn hóa dân tộc Việt Nam xuất bản.&lt;br /&gt;55. Trần Trọng Kim (2000), Việt Nam sử lược, Quyển 2, Nxb Tp HCM.&lt;br /&gt;56. Đới Khả Lai (2001), “Hoa kiều và người Hoa ở Việt Nam trong Hải Nam tạp trước của Thái Đình Lan”, Kỷ yếu hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất, Nxb Thế Giới, Tập 5, Tr. 315-333.&lt;br /&gt;57. Đinh Xuân Lâm (1993), “Triều nguyễn trước âm mưu bành trướng của chủ nghĩa Tư bản phương Tây (1802-1858)”, NCLS, (6), Tr. 6-31.&lt;br /&gt;58. Phan Huy Lê, Vương Hoàng Tuyên, Chu Thiên (1965), Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, Tập III, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.&lt;br /&gt;59. Phan Huy Lê (2001), “Châu bản triều Nguyễn với việc nghiên cứu lịch sử kinh tế”, Kỷ yếu hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất, Nxb Thế Giới, Tập 5, Tr. 337-455.&lt;br /&gt;60. Nguyễn Thế Long, (2005), Bang giao Đại Việt- Triều Tây Sơn, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.&lt;br /&gt;61. Nguyễn Thế Long, (2005), Bang giao Đại Việt- Triều Nguyễn, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.&lt;br /&gt;62. Huỳnh Lý (1998), “Hội đua thuyền ở Quảng Nam và truyền thống thủy quân của nước ta”, Văn hóa Hội An, Nxb Đà Nẵng, Tr. 102-106.&lt;br /&gt;63. Ngô Sĩ Liên và các sử gia Việt Nam (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 1, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.&lt;br /&gt;64. Ngô Sĩ Liên và các sử gia Việt Nam (2004), Đại Việt sử ký toàn thư, Tập 2, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.&lt;br /&gt;65. Lê Đình Liễn (1998), “Công cuộc phòng thủ ở cửa biển Đà Nẵng của triều đình Huế trước sự xâm lược của thực dân Pháp năm 1858”, Tham luận hội thảo khoa học kỷ niệm 140 năm ngày nhân dân Đà Nẵng mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Đà Nẵng.&lt;br /&gt;66. Hãn Nguyên (1975), “Những sử liệu chữ Hán minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng sa và Trường Sa qua nhiều thế kỷ”, Sử Địa, (29), Tr. 115-150.&lt;br /&gt;67. Nguyễn Nhã (1975), “Thử đặt vấn đề Hoàng Sa”, Sử Địa (29), Tr. 3-6 và 351.&lt;br /&gt;68. Nguyễn Nhã (1975), “Hoàng Sa qua vài tài liệu văn khố của hội truyền giáo Ba Lê”, Sử Địa, (29), Tr. 258-273.&lt;br /&gt;69. Nguyễn Nhã (2002), Qúa trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Luận án Tiến sĩ Lịch sử, Đại học Khoa học Xã hội &amp;amp; Nhân văn, Tp HCM.&lt;br /&gt;70. Nhiều tác giả (2005), Lịch sử nhà Nguyễn- Một cách tiếp cận mới, Nxb ĐHSP, Hà Nội.&lt;br /&gt;71. Đỗ Quỳnh Nga (2003), Thành phố Đà Nẵng dưới triều Nguyễn (1802-1888), Khóa luận tốt nghiệp Cử nhân Sử học, ĐHKH Huế.&lt;br /&gt;72. Đỗ Văn Ninh (1993), “Quân đội nhà Nguyễn”, NCLS, (6), Tr. 45-53.&lt;br /&gt;73. Karashima Noboru (1995), “Hoạt động thương mại của Ấn Độ ở Đông Nam Á thời cổ đại và trung đại”, NCLS, (3).&lt;br /&gt;74. Nội các triều Nguyễn (2005), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch, in lần thứ 2, Tập 5, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;75. Nguyễn Hữu Châu Phan (2001), "Bối cảnh lịch sử Việt Nam khi người Pháp đến", Nghiên cứu Huế, (2), Tr. 30-71.&lt;br /&gt;76. Nguyễn Phan Quang (1991), “Hồi ký về xứ “Cochinchine” năm 1744”, NCLS (1), Tr. 75-79.&lt;br /&gt;77. Nguyễn Phan Quang (2002), Việt Nam thế kỷ XIX (1802-1884), Nxb Tp HCM.&lt;br /&gt;78. Quốc sử quán triều Nguyễn (1995), Đại Nam liệt truyện tiền biên, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.&lt;br /&gt;79. Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, Tập 1, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.&lt;br /&gt;80. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, Tập 2, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.&lt;br /&gt;81. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, Tập 3, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.&lt;br /&gt;82. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, Tập 4, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.&lt;br /&gt;83. Quốc sử quán triều Nguyễn (2004), Đại Nam thực lục, Tập 5, Bản dịch của Viện Sử học, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.&lt;br /&gt;84. Quốc sử quán triều Nguyễn (1970), Đại Nam thực lục chính biên, tập 23, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.&lt;br /&gt;85. Quốc sử quán triều Nguyễn (1971), Đại Nam thực lục chính biên, tập 24, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.&lt;br /&gt;86. Quốc sử quán triều Nguyễn (1971), Đại Nam thực lục chính biên, tập 25, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.&lt;br /&gt;87. Quốc sử quán triều Nguyễn (1970), Đại Nam thực lục chính biên, tập 26, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.&lt;br /&gt;88. Quốc sử quán triều Nguyễn (1960-1962), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, Sử Học, Hà Nội.&lt;br /&gt;89. Quốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, Tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;90. Quốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, Tập 2, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;91. Quốc sử quán triều Nguyễn (1992), Đại Nam nhất thống chí, Tập 3, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;92. Quốc sử quán triều Nguyễn (1994), Minh Mệnh chính yếu, Tập 1, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;93. Quốc sử quán triều Nguyễn (1994), Minh Mệnh chính yếu, Tập 2, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;94. Quốc sử quán triều Nguyễn (1994), Minh Mệnh chính yếu, Tập 3, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;95. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Quốc triều chính biên toát yếu, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;96. Quốc sử quán triều Nguyễn (1998), Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Viện Sử học dịch, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.&lt;br /&gt;97. Lưu Anh Rô (2005), Đà Nẵng buổi đầu đánh Pháp (1858-1860), Nxb Đà Nẵng.&lt;br /&gt;98. Albert Sallet (2004), “Chiến dịch Pháp- Tây Ban Nha ở vùng Trung- Trung kỳ chiếm Taurane năm 1858-1859”, Hà Xuân Liêm dịch, BAVH, Tập 15, Tr. 341-351.&lt;br /&gt;99. Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại kỷ sự, bản dịch, Đại học Huế.&lt;br /&gt;100. Ngô Thời Sĩ (1991), Việt sử tiêu án, Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên lạc Văn hoá Á châu dịch, Nxb Văn Sử.&lt;br /&gt;101. Trần Đức Anh Sơn (2002), “Các thương cảng vùng Trung Trung bộ Việt Nam và con đường gốm sứ ở vùng tây nam Thái Bình Dương trong thời đại thương mại (thế kỷ XVI-XVIII)”, Huế, triều Nguyễn- Một cái nhìn, Nxb Thuận Hóa, Huế.&lt;br /&gt;102. Phạm Văn Sơn (1983), Việt sử toàn thư, Hiệp hội người Việt Nam tại Nhật Bản xuất bản.&lt;br /&gt;103. Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII, Nguyễn Nghị dịch, Nxb Trẻ, TPHCM.&lt;br /&gt;104. Lê Tắc (1961), An Nam chí lược, Viện Đại học Huế biên dịch và xuất bản.&lt;br /&gt;105. Văn Tân (1975), “Vai trò của thủy quân Việt Nam trong lịch sử dân tộc (từ thời đại Hùng Vương đến thế kỷ XIX)”, NCLS, (5).&lt;br /&gt;106. Võ Long Tê (1975), “Phương diện địa danh học của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, Sử Địa, (29), Tr. 211-216.&lt;br /&gt;107. Võ Văn Thắng (2001), “Một bản phổ chí nói về quan hệ Việt - Chàm”, Kỷ yếu hội thảo Việt Nam học lần thứ nhất, Nxb Thế Giới, Tập 5, Tr. 496-504.&lt;br /&gt;108. Chu Thiên (1961), “Vài nét về công thương nghiệp triều nguyễn”, NCLS, (12).&lt;br /&gt;109. Nguyễn Hữu Thông (2002), “Bản đồ các tỉnh miền Trung thời Nguyễn”, Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam, Tạp chí Xưa &amp; Nay và Trung tâm bảo tồn Di tích Cố đô Huế xuất bản, Tr. 234-238.&lt;br /&gt;110. Cao Huy Thuần (2003), Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam (1857-1914), Nguyên Thuận dịch, Nxb Tôn Giáo.&lt;br /&gt;111. Nguyễn Quang Trung Tiến (1998), “Triều đình Huế với mặt trận chống Pháp ở Đà Nẵng năm 1858”, Huế Xưa &amp;amp; Nay, (29).&lt;br /&gt;112. Nguyễn Quang Trung Tiến (2000), “Qúa trình thiết lập hệ thống phòng thủ cửa biển Thuận An”, NCLS, (5), Tr. 42-54.&lt;br /&gt;113.Tố Am Nguyễn Toại (2002), "Thủy quân ngày xưa", Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế và Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển xuất bản, Tr. 44-49.&lt;br /&gt;114. Tố Am Nguyễn Toại (2002), "Quan thuyền thời Nguyễn đi ra ngoại dương", Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế và Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển xuất bản, Tr. 121-125.&lt;br /&gt;115. Lưu Trang (2003), Phố cảng Đà Nẵng từ 1802-1860, Tóm tắt luận án Tiến sỹ khoa học Lịch sử, ĐHSP Hà Nội.&lt;br /&gt;116. Lưu Trang (2005), Phố cảng Đà Nẵng từ 1802-1860, Nxb Đà Nẵng.&lt;br /&gt;117. Tôn Nữ Quỳnh Trân (2002), "Vua Gia Long và ngành đóng thuyền tại Nam bộ", Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam, tạp chí Xưa &amp; Nay và Trung tâm bảo tồn Di tich Cố đô Huế xuất bản, Tr. 311-319.&lt;br /&gt;118. Yoshiharu Tsuboi (1993), Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, Nguyễn Đình Đầu dịch, Hội KHLS Việt Nam, Hà Nội.&lt;br /&gt;119. Nguyễn Minh Tường (1996), Cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng, Nxb KHXH, Hà Nội.&lt;br /&gt;120. Trung tâm nghiên cứu Quốc học (2005), Châu bản triều Tự Đức, (1848-1883), Vũ Thanh Hằng, Trà Ngọc Anh, Tạ Quang Phát tuyển chọn và dịch, Nxb Văn Học, Hà Nội.&lt;br /&gt;121. Tuyển tập những bài nghiên cứu về triều Nguyễn (2002), Sở Khoa học công nghệ &amp;amp; Môi trường Thừa Thiên Huế và Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế xuất bản.&lt;br /&gt;122. Nguyễn Đắc Xuân (2003), “Về chiếc tàu Constitution của Mỹ đến Đà Nẵng năm 1847”, Huế Xưa &amp; Nay, (56), Tr. 54-57.&lt;br /&gt;123. Trương Thị Yến (1979), “Bước đầu tìm hiểu về chuính sách thương nghiệp của nhà nước phong kiến Việt Nam thế kỷ XVII-XVIII”, NCLS, (4), Tr. 65-76.&lt;br /&gt;124. Trương Thị Yến (1993), “Vài nét về thương nghiệp Việt nam nửa đầu thế kỷ XIX”, NCLS, (6), Tr. 67-74.&lt;br /&gt;125. Viện Sử học (1984), Đô thị cổ Việt Nam, Nxb KHXH, Hà Nội.&lt;br /&gt;126. Trần Quốc Vượng (1998) “Về một nền văn hóa cảng thị miền Trung”, Việt Nam- Cái nhìn địa văn hóa, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội.&lt;br /&gt;127. Trần Quốc Vượng (1998), “Khu phố cổ Hội An”, Văn hóa Hội An, Nxb Đà Nẵng, Tr. 3-12.&lt;br /&gt;128. Thành Thế Vỹ (1961), Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX, Nxb Sử Học, Hà Nội.&lt;br /&gt;129. Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng (1983), Quân Thủy trong lịch sử chống ngoại xâm, Nxb Quân đội Nhân dân, Hà Nội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;B. Tiếng Anh&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;130. Buttinger (J.) (1958), The smaller dragon, A political history of Viet Nam, New York.&lt;br /&gt;131. White (J.) (1823), A history of a voyage to the China-Sea, Boston.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;C. Tiếng Pháp&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;132. Bulletin des Amis du Vieux Huế (1914-1944), CD.&lt;br /&gt;133. Poivre Piere, Voyage de Piere Poivre en Chochinchine description de la Cochinchine (1748-1780), Ed, H. Cordier, 1887, Revue, d’ Extrême Orient, Vol III.&lt;br /&gt;134. Bouilleveaux (M.) (1858), Voyage dans l’ Indochine 1848-1856. Paris.&lt;br /&gt;135. Héduy (Ph.) (1983), Histoire de l’ indochine, Laconquête 1624-1885, Paris.&lt;br /&gt;136. Langlet (Ph.) (1990), L’ ancienne historyographie d’ Etat au Viet Nam, T.1, Paris.&lt;br /&gt;137. Launay (A.) (1894), Histoire générale de la Socciété des Missions Étrangères, Paris.&lt;br /&gt;138. Lê Thành Khôi (1982) , Histoire du Viet Nam des origines à 1858, Paris.&lt;br /&gt;139. Maybon (Ch.) (1920), Hoistoire moderne du pays d’Annam (1592-1820), Paris.&lt;br /&gt;140. Võ Long Tê (1974), Les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens d' histoire et de ge'ographie, Sai Gon.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;D. Tài liệu Internet&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;141. “Biến cố lịch sử một thời chưa xa”,&lt;br /&gt;http://www.songvinh.com/LuanHoan/danang/htm/danang04.htm&lt;br /&gt;142. Nguyễn Duy Chính, “Bùi Viện (1839-1878) và cuộc cải cách hải quân”,&lt;br /&gt;http://vanhoc.datviet.com/thuvien/truyen/truyen.asp?id=9305&amp;amp;dang=uni&amp;cochu=10&lt;br /&gt;143. “Hành trình xác lập chủ quyền vùng biển Việt Nam trên những bộ bản đồ - Theo dấu những bộ sách cổ”,&lt;br /&gt;http://www.ciren.gov.vn/modules.php?name=News&amp;amp;file=print&amp;sid=4581&lt;br /&gt;144. “Hoàng Sa”, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia,&lt;br /&gt;http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%A7n_%C4%91%E1%BA%A3o_Ho%C3%A0ng_Sa&lt;br /&gt;145. Hồ Đắc Duy, “Tìm kho báu của quân Mông Cổ ở đáy biển vịnh Hạ Long”,&lt;br /&gt;http://chimviet.free.fr/5/hdds0053.htm&lt;br /&gt;146. Lam Điền, “Cả một đời nghiên cứu Hoàng Sa”,&lt;br /&gt;http://www.vietnamgiapha.com/view/index.php?mnu=5&amp;amp;amp;amp;id=1013&amp;gid=4&amp;amp;BRSR=80&lt;br /&gt;147. Nguyễn Văn Huy, “Tìm hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt Nam”,&lt;br /&gt;http://www.shcd.de/van%20hoc/NVHuy/nguoi%20cham_1.html&lt;br /&gt;148. “Lịch sử Công giáo La Mã tại Việt Nam”,&lt;br /&gt;http://www.vnbaptist.net/Tai_Lieu/LichSuCDG/01.htm&lt;br /&gt;149. Nguyễn Quang Ngọc, “Cuốn sách quý về Hoàng Sa chưa được xuất bản”,&lt;br /&gt;http://www.vnn.vn/chinhtri/2004/02/48990/&lt;br /&gt;150. Dương Trung Quốc, “Việt Nam từng có những hải đội Hoàng Sa”,&lt;br /&gt;http://www.vietnamgiapha.com/view/index.php?mnu=5&amp;id=1023&amp;amp;gid=4&amp;BRSR=40&lt;br /&gt;151. Li Tana, “Một Việt Nam khác? Vương quốc họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18”,&lt;br /&gt;www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5002&amp;amp;rb=0301 - 77k – Supplemental&lt;br /&gt;152. Cao Huy Thuần, «Vạn đại dung thân»,&lt;br /&gt;http://www.thoidai.org/ThoiDai6/200506_CHThuan.htm&lt;br /&gt;153. Phạm Văn Tuấn, "Lịch sử thuyền, tàu và các lực lượng Hải quân",&lt;br /&gt;http://vietsciences.free.fr/lichsu/lichsuthuyenvahaiquan.htm&lt;br /&gt;154. Tài liệu tuyên truyền biển đảo năm 2003-2004,&lt;br /&gt;http://www.cpv.org.vn/details.asp?topic=67&amp;subtopic=166&amp;amp;id=BT2960365127&lt;br /&gt;155. http://www.vpa.org.vn&lt;br /&gt;156. www.xuquang.com&lt;br /&gt;157. http://www.vietnamgiapha.com&lt;br /&gt;158. http://www.nguyentl.free.fr&lt;br /&gt;159. http://vlonely.com&lt;br /&gt;160. http://www.shcd.de&lt;br /&gt;161. http://chimviet.free.fr/index2.htm&lt;br /&gt;162. http://vi.wikipedia.org/wiki/Trang_Ch%C3%ADnh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HẾT&lt;br /&gt;_________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Lê Tiến Công gửi vào ngày 05 tháng 10 HB6 (2006),&lt;br /&gt;lúc 02: 46: 18 -0700 (PDT) [06 tháng 10 HB6])&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đưa lên &lt;em&gt;“Web Giao lưu của những người cùng thời”&lt;/em&gt;:&lt;br /&gt;chiều thứ bảy (chủ nhật cũ), 18-02 HB7 (2007)&lt;br /&gt;[mùng 2 Tết Đinh hợi HB7]:&lt;strong&gt;&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:85%;color:#ff0000;"&gt;Điều chỉnh lại hình thức trình bày trên trang web: 19-02 HB7, lúc 9 giờ 48'&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6171194795727795119-2086534474586933937?l=tranxuanan-giaoluu-nnct-letiencong.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6171194795727795119/posts/default/2086534474586933937'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6171194795727795119/posts/default/2086534474586933937'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranxuanan-giaoluu-nnct-letiencong.blogspot.com/2007/02/l-tin-cng-lun-vn-thc-s-hb7-2007-phn-2.html' title='LÊ TIẾN CÔNG - Luận văn thạc sĩ HB6 (2006) -- 2'/><author><name>Web. Giao luu cua nhung nguoi cung thoi</name><uri>http://www.blogger.com/profile/06222300160977315036</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://photos1.blogger.com/blogger2/3830/175921985080683/1600/1-But_TXA_tiengViet_lacay.jpg'/></author></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-6171194795727795119.post-7792612852052211977</id><published>2007-02-19T09:28:00.000+07:00</published><updated>2007-02-19T09:28:52.218+07:00</updated><title type='text'>LÊ TIẾN CÔNG - Luận văn thạc sĩ HB6 (2006) -- 1</title><content type='html'>LUẬN VĂN THẠC SĨ&lt;br /&gt;(bảo vệ tại Đại học Khoa học Huế, tháng 10 HB6 [2006])&lt;br /&gt;của LÊ TIẾN CÔNG&lt;br /&gt;(hiện công tác tại Tạp chí Huế Xưa &amp; Nay)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;“Tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển&lt;br /&gt;các tỉnh miền Trung&lt;br /&gt;dưới triều Nguyễn:&lt;br /&gt;thời kì 1802-1858”&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;MỞ ĐẦU&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Lí do chọn đề tài&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1.1. Biển cả là nơi nguy nan, dữ dội và hiểm độc; là mối lo sợ và cũng là nơi thách đố con người. Tuy “biển không phải là đất nhưng là đất nối dài” (từ của GS. Cao Huy Thuần [152]) và, Việt Nam không phải là dân tộc thủy thủ nhưng có cách ứng xử trước biển theo cách của riêng mình. Lịch sử dân tộc chứng minh rằng, biển luôn có một vị thế quan trọng đối các triều đại phong kiến. Điều đó thể hiện rõ trong các hoạt động kinh tế và an ninh quốc phòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày nay, trong định hướng phát triển vùng của Chính phủ giai đoạn 2001-2010, khu vực biển và hải đảo được xác định: “tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển. Phát triển tổng hợp kinh tế biển và ven biển, khai thác lợi thế của các khu vực cửa biển, hải cảng để tạo thành vùng phát triển cao, thúc đẩy các vùng khác. Xây dựng căn cứ hậu cần ở một số đảo để tiến ra biển khơi. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo vệ an ninh trên biển”[30, 182]. Điều đó cho thấy vị trí quan trọng của biển, đảo trong chiến lược phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng. Nghiên cứu về việc tổ chức và hoạt động bảo vệ quốc gia trên biển, trực tiếp là hệ thống phòng thủ vùng biển trong lịch sử có ý nghĩa thời sự trong giai đoạn hiện nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1.2. Là triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, triều Nguyễn đã kế thừa những tri thức, kinh nghiệm xây dựng và bảo vệ đất nước của các triều đại trước để xây dựng một quốc gia thống nhất, vững mạnh có vị trí trong khu vực. Đặc biệt, khi những cuộc thăm dò của thực dân phương Tây núp dưới danh nghĩa thương mại và truyền giáo ngày một nhiều, lộ rõ ý đồ xâm lược, thì nhu cầu bảo vệ quốc gia từ phía biển được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước yêu cầu và hoàn cảnh lịch sử mới, triều Nguyễn đã nhận thấy cần phải bảo vệ quốc gia không chỉ ở biên giới mà còn phải chú trọng nhiều trong phòng thủ vùng biển, đặc biệt là vùng biển miền Trung, nơi có Kinh đô và nhiều cửa biển, địa hình phức tạp, giữ một vị trí quan trọng trên đường hàng hải quốc tế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thay đổi cái nhìn truyền thống và hướng tới việc chú trọng bảo vệ quốc gia là phòng thủ vùng biển, các vua nhà Nguyễn đã thi hành nhiều biện pháp bảo vệ thường xuyên trên vùng biển nói chung và ở miền Trung nói riêng. Tuy còn những hạn chế nhất định song những biện pháp đó đương thời phát huy tác dụng không nhỏ. Vì thế, nghiên cứu về việc tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển miền Trung nửa đầu thế kỷ XIX của triều Nguyễn mang nhiều ý nghĩa thực tiễn, góp phần phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1.3. Đây là một đề tài tương đối rộng nhưng chúng tôi cho rằng nó có tính khả thi bởi các lý do:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nghiên cứu về triều Nguyễn trong những năm gần đây có nhiều thành tựu quan trọng, cho phép nhận thức ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn về triều đại này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Hiện nay, nhiều tư liệu về nhà Nguyễn đã được khai thác, biên dịch có tính tổng thể và chuyên sâu, chúng tôi có thể tiếp cận và kế thừa những công trình của những người đi trước, nâng lên tầm tổng quát.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Chúng tôi có một qúa trình học tập, nghiên cứu và đang công tác tại miền Trung nên có thuận lợi trong nghiên cứu điền dã ven biển mà theo chúng tôi hiện nay vẫn còn rất nhiều vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong cái nhìn hệ thống và khoa học.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề &lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những ghi chép, nghiên cứu rời rạc có liên quan tới vùng biển Việt Nam trước năm 1945 trước tiên phải kể đến những người nước ngoài, nhất là các tác giả người Pháp. Các ghi chép, báo cáo, nhật ký của các giáo sĩ, thương nhân, quân nhân của các nước khác đến nước ta trước đây như: &lt;em&gt;“Xứ Đàng Trong”&lt;/em&gt; của C. Borri [14], &lt;em&gt;“Hải ngoại kỉ sự”&lt;/em&gt; của Thích Đại Sán (1695) [99], “Một chuyến du hành tới Đàng Trong những năm 1792-1793” của John Barrow [13],... Nhìn chung, tác tài liệu trên đã đề cập tới vùng biển miền Trung với nhiều góc độ khác nhau như: địa lí - địa hình, kinh tế, chính trị, xã hội và hoạt động quân sự, ngoại giao… tác giả có thể tham khảo khi nghiên cứu đề tài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thư tịch cổ của Việt Nam và các nước sớm đề cập đến vùng biển Việt Nam, như &lt;em&gt;“Toản tập thiên Nam tứ chí lộ đồ thư”&lt;/em&gt; hay &lt;em&gt;“Toản tập An Nam lộ đồ”&lt;/em&gt; của Đỗ Bá Công Đạo (thế kỷ XVII); &lt;em&gt;“Phủ biên tạp lục” &lt;/em&gt;(cuối thế kỷ XVIII) của Lê Quý Đôn [35], &lt;em&gt;Đại Nam thực lục&lt;/em&gt; [79], [80], [81], [82], [83], [84], [85], [86], [87], &lt;em&gt;“Lịch triều hiến chương loại chí”&lt;/em&gt; của Phan Huy Chú, &lt;em&gt;“Việt sử cương giám khảo lược”&lt;/em&gt; của Nguyễn Thông (thế kỷ XIX) (xem thêm phần &lt;em&gt;“Lịch sử nghiên cứu vấn đề”&lt;/em&gt; trong Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Nhã [69, ii-iv])&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giai đoạn từ 1945-1975, có một số bài viết trên các tập san chuyên đề như Khảo cổ, Sử Địa (Sài Gòn), Đại học Huế và một số công trình của các tác giả như Trần Văn Giàu, Thành Thế Vỹ, Phan Khoang, Nguyễn Thế Anh, Trần Trọng Kim... với những thông tin bổ ích liên quan đến đề tài. Đáng chú ý có Luận văn Thạc sĩ của Võ Văn Dật “Lịch sử Đà Nẵng 1306-1950”, bảo vệ năm 1974 tại Đại học Văn khoa Huế [28], đề cập tới nhiều khía cạnh, trong đó có hoạt động phòng thủ cửa biển Đà Nẵng, tuy nhiên do hoàn cảnh chiến tranh, phương pháp luận, tư liệu... nên Luận văn vẫn còn những hạn chế nhất định.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1974, Võ Long Tê với tác phẩm “Les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens d' histoire et de ge'ographie” [106]. Và năm 1975, nhóm nghiên cứu Sử Địa (Sài Gòn) ra số 29, “Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa” [38], [39], [41], [44], [48], [53], [66], [67], [68]. Đó là hai công trình giá trị, chứng minh hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ 1975 đến nay, việc nghiên cứu về lịch sử nhà Nguyễn nói chung được quan tâm đúng mức với một số thành tựu quan trọng. Liên quan tới đề tài luận văn có một số công trình như "Quân thủy trong lịch sử chống ngoại xâm” của Nguyễn Việt, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hùng, xuất bản năm 1983 với rất nhiều đóng góp, nhưng chỉ nghiên cứu đến thời Tây Sơn [129]. Luận án “Phố cảng vùng Thuận Quảng thế kỷ XVII-XVIII” của tác giả Đỗ Bang (1993)[7], Luận văn Thạc sĩ của Lưu Anh Rô về “Đà Nẵng trong buổi đầu chống xâm lược Pháp (1858-1860)”, (bảo vệ tại Đại học Khoa học Huế năm 2000, xuất bản năm 2005) [97]. Luận án Tiến sĩ của Lưu Trang với đề tài “Phố cảng Đà Nẵng từ năm 1802 đến năm 1860”, (bảo vệ năm 2004 tại ĐHSP Hà Nội, xuất bản năm 2005) [116], nghiên cứu sâu và khá triệt để nhưng chỉ trên đối tượng nhỏ lẻ như tiêu đề từng công trình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Riêng về hải đảo, theo tác giả Nguyễn Nhã, từ những năm sau 1975, Ban Biên giới Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong tìm kiếm, nghiên cứu và thông báo nhiều tư liệu quý, đặc biệt về Hoàng Sa và Trường Sa. Gần đây có một số đề tài khoa học cấp Quốc gia, đáng lưu ý là “Hợp đồng nghiên cứu khoa học về lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” do PGS.TS. Nguyễn Quang Ngọc chủ trì (báo cáo năm 1995). Nhiều hội thảo khoa học liên quan đã được tổ chức. Cho đến năm 2002 trên mạng internet có 970 tài liệu liên quan đến Hoàng Sa, Trường Sa [69, ii-iv].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 2003, Nguyễn Nhã bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ "Qúa trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”, (hoàn thành năm 2002), với những bằng chứng hùng hồn chứng minh quá trình chiếm hữu thực sự, hoà bình và thực thi liên tục của các nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa [69, 29].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo PGS.TS. Nguyễn Quang Ngọc, những năm năm 1996-1998, tác giả Phạm Kim Hùng (Hà Nội) đã biên soạn cuốn "Nghiên cứu, phản bác cuốn sách "Tổng hợp sử liệu các đảo Nam hải nước ta” do Hàn Chấn Hoa chủ biên". Công trình này gồm 7 phần, nhưng còn đang chỉnh lý thì tác giả qua đời nên cho đến nay vẫn chỉ được xem là “Cuốn sách quý về Hoàng Sa chưa được xuất bản” [149]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra có một số Khoá luận Cử nhân của Nguyễn Văn Đăng (1989) [32], Đỗ Quỳnh Nga (2003) [71], và một số bài viết của Lê Đình Liễn “Công cuộc phòng thủ ở cửa biển Đà Nẵng của triều đình Huế trước sự xâm lược của thực dân Pháp năm 1858)”[65], Nguyễn Quang Trung Tiến: “Triều đình Huế với mặt trận chống Pháp ở Đà Nẵng năm 1858” [111], “Qúa trình thiết lập hệ thống phòng thủ cửa Thuận An”[112],... các bài nghiên cứu của GS. Trần Quốc Vượng [126], [127], GS. Đỗ Văn Ninh [72], Tố Am Nguyễn Toại [113], [114], Huỳnh Lý [62],... nghiên cứu trong không gian rộng hơn và cung cấp nhiều thông tin quý giá.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phòng thủ vùng biển dưới triều Nguyễn, quan trọng và được quan tâm nhiều nhất là của biển Đà Nẵng - nơi duy nhất dùng đón tiếp các thương khách và sứ thần phương Tây, cũng là nơi có vị trí quan trọng, cận Kinh đô. Chính vì thế, cho tới nay giới sử học rất quan tâm và có nhiều tác giả nghiên cứu với nhiều thành tựu đáng ghi nhận...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, các tác giả chỉ nghiên cứu trên từng đối tượng riêng lẻ, chủ yếu chú trọng về phòng thủ ở các cửa biển. Để có cái nhìn tổng thể, toàn diện chúng tôi đề xuất một hướng nghiên cứu rộng hơn, trên cả vùng biển miền Trung mà chưa có tác giả nào nghiên cứu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Đề tài giới hạn trong phạm vi không gian miền Trung, tương đương với các tỉnh từ Thanh Hóa tới Bình Thuận hiện nay. Đây là vùng biển có vị trí chiến lược và vị thế quan trọng trong bảo vệ đất nước. Đặc biệt, dưới triều Nguyễn, Kinh đô đóng ở Phú Xuân vì thế vùng Kinh đô, Tả trực, Hữu trực, Tả kỳ, Hữu kỳ đều được quan tâm xây dựng hệ thống phòng thủ thường xuyên. Nghiên cứu phòng thủ vùng biển miền Trung chính là nghiên cứu nơi bố phòng mạnh nhất thời Nguyễn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thời gian nghiên cứu trong đề tài từ năm 1802 đến năm 1858, tức từ khi triều Nguyễn được thiết lập đến thực dân Pháp nổ súng xâm lược. Đây là thời kì mà việc tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển được thể hiện liên tục và có hệ thống.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Nội dung trọng tâm của đề tài là nghiên cứu về tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển, bao gồm cả cửa biển, mặt biển và hải đảo của triều Nguyễn ở miền Trung, nhằm thấy được một cách cụ thể và khái quát về công cuộc bảo vệ vùng biển, cũng là bảo vệ quốc gia đương thời. Từ đó tìm ra những mặt hiệu quả và hạn chế cũng như những kinh nghiệm lịch sử phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước ngày nay (*).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;[Cước chú: (*) Tên đề tài Luận văn là “Tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển các tỉnh miền Trung dưới triều Nguyễn: thời kì 1802-1858”, để tránh lặp lại, bất tiện cho việc diễn giải và đặt tên các chương].&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;4. Nguồn tư liệu nghiên cứu&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn tư liệu thực hiện đề tài này trước hết và quan trọng nhất là những tư liệu gốc- tư liệu nhà nước đương thời đã được các cơ quan khoa học tổ chức biên dịch trong thời gian qua như &lt;em&gt;“Châu bản triều Nguyễn”&lt;/em&gt; [21], [22], [23], [120], &lt;em&gt;“Đại Nam thực lục”&lt;/em&gt; (tiền biên và chính biên) [79], [80], [81], [82], [83], [84], [85], [86], [87], &lt;em&gt;“Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ”&lt;/em&gt; [74], &lt;em&gt;“Đại Nam nhất thống chí”&lt;/em&gt; [89], [90], [91], &lt;em&gt;“Minh Mệnh chính yếu”&lt;/em&gt; [92], [93], [94], các bản đồ cổ [PL 3, PL 4, PL 5, PL 6, PL 7, PL 9]... các tài liệu ghi chép của các giáo sĩ, binh sĩ, thương nhân... nước ngoài đương thời có mặt ở nước ta; được giới nghiên cứu sưu tầm, công bố... chúng tôi có thể kế thừa [132], [75], [45], ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài này cũng bổ sung cho tác giả nhiều thông tin cũng như nhận định có thể tham khảo một cách hữu ích.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn tư liệu quan trọng khác là những tư liệu nghiên cứu điền dã như: trực tiếp quan sát, đo, vẽ, chụp hình; tìm hiểu về địa hình cửa biển, văn bia, gia phả, truyện kể... ở những làng xã miền biển bổ sung và cũng cố những nhận định, đánh giá liên quan đến đề tài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn tư liệu phong phú trên mạng internet với nhiều thông tin, hình ảnh liên quan cũng được tác giả khai thác bổ sung, chủ yếu có giá trị tham khảo [141] đến [162].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;5. Phương pháp nghiên cứu&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng kết hợp phương pháp luận nghiên cứu duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Bên cạnh đó tác giả còn sử dụng những phương pháp chuyên ngành khoa học lịch sử và liên ngành khảo cổ học, dân tộc học...và các phương pháp cụ thể như sưu tầm, sử lý tư liệu. Phương pháp điền dã ở các địa phương có những cửa biển quan trọng. Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu... nhằm thấy được tính cụ thể và tổng quát nhất mà đề tài hướng tới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong xử lý tư liệu, tác giả luận văn cố gắng bám vào tư liệu gốc và các tư liệu dịch thuật bởi các cơ quan chuyên môn có uy tín. Tuy nhiên có nhiều lý do khách quan, tác giả không thể tiếp cận tư liệu gốc mà phải trích dẫn lại, trong những trường hợp như vậy, tác giả đều nói rõ nguồn; tác giả gạch chân ở những điểm muốn nhấn mạnh trong luận văn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;6. Kết quả và đóng góp của luận văn&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nếu thực hiện thành công, luận văn sẽ có những đóng góp sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6.1. Lần đầu tiên có một công trình khoa học đánh giá khá đầy đủ, khách quan và hệ thống công cuộc tổ chức và những hoạt động phòng thủ vùng biển miền Trung dưới triều Nguyễn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghiên cứu về phòng thủ vùng biển cũng là nghiên cứu một phần quan trọng của lịch sử quân sự Việt Nam. Đặc biệt, vào thời Nguyễn, việc bảo vệ quốc gia không còn như trước mà là đối phó với âm mưu xâm lược của phương Tây. Chính vì thế, công cuộc tổ chức và hoạt động phòng thủ cũng có sự thay đổi theo thời thế. Dưới góc độ sử học, tác giả hệ thống khái quát toàn bộ công tác tổ chức và những hoạt động phòng thủ vùng biển. Trên cơ sở các tài liệu tin cậy, kế thừa có chọn lọc những công trình tham khảo, tác giả đưa ra những phân tích, đánh giá độc lập.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6.2. Từ thực tiễn nghiên cứu, luận văn bước đầu rút ra một số kinh nghiệm thiết thực có thể tham khảo, vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;6.3. Luận văn tập hợp, hệ thống những tài liệu liên quan đến biển đảo trong lịch sử Việt Nam, có thể sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập và nghiên cứu ở các trường đại học.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;7. Bố cục của luận văn&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, lời cám ơn, lời cam đoan, danh mục chữ viết tắt và phụ lục, phần nội dung luận văn được chia làm 3 chương. Cụ thể như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Chương 1: Tổ chức và hoạt động bảo vệ vùng biển miền Trung trước năm 1802&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1.1. Khái quát về vùng biển miền Trung&lt;br /&gt;1.2. Tổ chức và hoạt động bảo vệ vùng biển miền Trung trước năm 1802&lt;br /&gt;1.2.1. Bảo vệ vùng biển miền Trung dưới thời Champa&lt;br /&gt;1.2.2. Bảo vệ vùng biển miền Trung thời Đại Việt&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Chương 2: Tổ chức phòng thủ vùng biển các tỉnh miền Trung dưới triều Nguyễn: thời kì 1802-1858&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2.1. Vị thế của biển trong con mắt các vua đầu triều Nguyễn&lt;br /&gt;2.2. Tổ chức, trang bị và huấn luyện quân đội&lt;br /&gt;2.3. Thông tin liên lạc&lt;br /&gt;2.4. Xây dựng hệ thống phòng thủ vùng biển&lt;br /&gt;2.4.1. Hệ thống phòng thủ ở cửa biển Đà Nẵng&lt;br /&gt;2.4.2. Hệ thống phòng thủ ở cửa biển Thuận An&lt;br /&gt;2.4.3. Hệ thống phòng thủ ở các tỉnh khác&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Chương 3: Hoạt động phòng thủ vùng biển các tỉnh miền Trung dưới triều Nguyễn: thời kì 1802-1858&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3.1. Chống ngoại xâm&lt;br /&gt;3.2. Phòng chống cướp biển&lt;br /&gt;3.3. Tuần tra&lt;br /&gt;3.4. Kiểm soát tàu thuyền ra vào&lt;br /&gt;3.5. Cứu hộ, cứu nạn&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CHƯƠNG 1&lt;br /&gt;TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ BIỂN MIỀN TRUNG&lt;br /&gt;TRƯỚC NĂM 1802&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1.1. KHÁI QUÁT VỀ VÙNG BIỂN MIỀN TRUNG&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tài liệu tuyên truyền biển đảo, (phổ biến trên Website của Đảng Cộng sản Việt Nam: &lt;a href="http://www.cpv.org.vn/"&gt;http://www.cpv.org.vn/&lt;/a&gt;) [154], Việt Nam giáp với biển Đông ở hai phía Đông và Nam. Vùng biển Việt Nam là một phần biển Đông với bờ biển dài 3.260km, khoảng l00km2 thì có lkm bờ biển; biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km2 (gấp 3 diện tích đất liền: l triệu km2/330.000km2).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vùng biển miền Trung có vị trí quan trọng trong tổng thể biển đảo Việt Nam, trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với nhiều đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ, hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vùng biển Việt Nam nói chung, miền Trung nói riêng có vị trí chiến lược quan trọng: nối liền Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương, châu Á với châu Âu, châu Úc với Trung Đông. Giao lưu quốc tế thuận lợi, phát triển ngành biển. Vùng biển và hải đảo nước ta có vị trí chiến lược hết sức to lớn, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp bảo vệ nền độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, có liên quan trực tiếp đến sự phồn vinh của đất nước, đến văn minh và hạnh phúc của nhân dân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quốc phòng, an ninh: biển nước ta nằm trên đường giao thông quốc tế từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam vì vậy có vị trí quân sự hết sức quan trọng. Đứng trên vùng biển-đảo của nước ta có thể quan sát khống chế đường giao thông huyết mạch ở Đông Nam Á. Biển-đảo nước ta có tầm quan trọng hết sức lớn lao đối với sự phát triển; trường tồn của đất nước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đảo và quần đảo: vùng biển nước ta có trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ trong đó: Vùng biển Đông Bắc có trên 3.000 đảo. Bắc Trung bộ trên 40 đảo. Còn lại ở vùng biển nam Trung bộ, vùng biển Tây Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Căn cứ vào vị trí chiến lược và các điều kiện địa lý kinh tế, dân cư, thường người ta chia các đảo, quần đảo thành các nhóm:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Hệ thống đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta. Đó là các đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triên kinh tế-xã hội. Đó là các đảo như: Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Các đảo ven bờ gần có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ đề bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta. Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang)...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tầm quan trọng của biển đảo miền Trung được đánh giá: "Khu vực biển mà hai quần đảo án ngữ có nhiều tuyến hàng hải và hàng không quan trọng của thế giới và khu vực, năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông bao gồm các con đường từ Tây Âu, bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Xuy- ê, Trung Đông đến Ấn Độ, Đông Á, Úc, Niu – Di Lân, con đường hàng hải bắc Thái Bình Dương từ tây bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam Á, con đường từ Đông Á đến Úc và Niu – Di Lân, và từ Đông đến Trung Đông. Nền kinh tế của nhiều nước trong khu vực Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo... phụ thuộc sống còn vào các tuyến hàng hải này" [154]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với vị trí quan trọng của nó, từ trong lịch sử, vùng biển đã được cha ông chú ý khai thác và bảo vệ, thực thi chủ quyền lãnh thổ như là một phần máu thịt của quốc gia Đại Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1.2. TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ BIỂN MIỀN TRUNG TRƯỚC NĂM 1802&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1.2.1. Bảo vệ vùng biển miền Trung thời Champa&lt;/strong&gt; (*)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;[Cước chú: (*) Hiện nay có nhiều cách gọi khác nhau như Chămpa, Champà, Cham pa… Tong luận văn này chúng tôi tạm sử dụng từ Champa. Khi trích dẫn, chúng tôi để nguyên].&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người Champa rất giỏi nghề đi biển, điều đó được khẳng định như một tất yếu. Họ biết về biển rất sớm, tuy vậy tài liệu về họ không nhiều. Lam Giang trong bài khảo cứu đã kết luận: "Những giống dân miền Trường Sơn là những dân tộc đầu tiên biết rõ Đông Hải; chứng tích cổ sử cho biết người Hán không phải là người đầu tiên đã sống ở vùng phía nam Trung Hoa cũng như Đông Hải mà các dân tộc bản địa, trong đó có cả dân Bách Việt sống ở đó trước. Có di tích Chăm ở Hoàng Sa và người Việt là thừa kế khi nước Chiêm sát nhập vào Việt Nam.” [67, 6].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tư liệu của Tố Am Nguyễn Toại cho biết: "Chiêm Thành là dân thạo nghề biển, từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ X, người Chàm kiểm soát hết việc doanh thương tơ lụa giữa triều nhà Đường Trung Quốc với vùng Ấn Độ, đến tận thành Bát Đa (Bagdad). Thuyền của họ lại chở hải tặc đi cướp các thuyền buôn chở hương liệu, trân châu, xà cừ, tơ lụa, chim lạ ở các đảo... Các triều đại Lê Đại Hành, Lý Thái Tôn, Lý Thánh Tôn, Trần Dụê Tôn, Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tôn khi chinh phạt nước Chiêm Thành đều phải dùng đến thủy quân mạnh, cùng một lúc với bộ quân". Tuy nhiên ông cũng thừa nhận: "các triều đại xa ấy, tổ chức thủy quân như thế nào cho đến nay chưa tìm ra được tài liệu nào đáng tin" [113, 44].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phan Khoang cho rằng, đặc điểm của người Chàm là "hiếu chiến". Người Chàm có lực lượng "thủy quân gồm những thuyền lớn, trên có pháo tháp và những thuyền nhẹ. Trong nhiều trận đánh, người ta thấy hạm đội gồm hơn trăm chiến thuyền yểm trợ lục quân... quấy phá ven biển nước Việt, bao phen làm mưa làm gió ở tận Thăng Long... vì qúa hiếu chiến... tự làm suy yếu trong những chiến tranh, để rồi không còn đủ sức lực giữ mình" [51, 33]. Phan Khoang cũng đánh giá: "người Chàm là giống người hung bạo, gan dạ và là những thủy thủ cang cường. Sống ở những thung lũng chật hẹp dọc theo duyên hải, phía tây ngăn chận bởi núi cao, phía đông là bể cả, họ phải tìm những gì đất họ không có... với những chiếc ghe nhẹ lướt trên biển cả, họ thường tấn công các thương thuyền đi qua hải phận họ để cướp bóc" [51, 34].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kỹ thuật đóng thuyền đi biển của người Champa đạt đến trình độ kỹ thuật cao. Họ không chỉ có tiếng hung bạo trên biển mà trong lịch sử, người Champa thường phải đi sứ, nộp cống cho nhà Thanh. Họ không đi qua đất Đại Việt thì tất đi theo đường biển. Vậy phải chăng là họ có đội thuyền đủ lớn và mạnh để thực hiện những chuyến đi dài mà không gặp rủi ro. Bởi không thấy tài liệu nào nói về việc tàu Champa vào Đại Việt tránh gió. Trên thực tế, mãi đến năm 992, Lê Đại Hành mới sai Ngô Tử Am đem 3 vạn người mở đường bộ từ cửa biển Nam Giới (cửa Sót, Hà Tĩnh) đến châu Đại Lý (đất Champa, Quảng Bình ngày nay), đấy là con đường bộ đầu tiên của Đại Việt thông với Champa [51, 39].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc triều cống của Champa với Trung Quốc để "dựa thế" dĩ nhiên cũng không thể làm cho Đại Việt hài lòng và cố nhiên là ngăn cản. Tư liệu cho biết, năm 1402 sứ Champa tâu với Trung Quốc là "sứ Chiêm đi cống Trung Quốc trở về, các món đồ vua ban cho đều bị An Nam cướp" [51, 75]. Vậy con đường biển sẽ được sử dụng nhiều.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;GS. Trần Quốc Vượng xác định: "những cái tên Chiêm Bất Lao (Cù Lao Chàm), Chiêm Cảng, Đại Chiêm hải khẩu Casccian cũng như những cái tên Trà Quế, Trà Nhiêu, Trà Chân quanh đây, những mảnh gốm Chàm cổ giống gốm Trà Kiệu (Simhapuna cổ), những cái giếng xây gạch cùng những viên gạch như trên tháp Chàm cổ vừa mới tìm thấy ở Cù Lao Chàm, ở phường Cẩm Phô, ở xã Cẩm Châu của khảo cổ học gần đây... đã cùng các tài liệu thư tịch cổ Trung Hoa, Ả Rập, Ba Tư xác định rằng vùng cửa Đại xưa là hải cảng chính của nước Champa và của kinh thành Champa trên đất Quảng Nam (Simhapura, Inchaprena), nơi đây có chiến thuyền và thương thuyền Trung Hoa, Chà Và, Ấn Độ và Ả Rập, Ba Tư...đã ghé đậu lấy nước ngọt từ những giếng chàm rất ngon đổi trao sản vật... Nhà hàng hải nổi tiếng Marco Polo thế kỷ 13 đã ghé cảng Đại Chiêm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người Champa có cái nhìn về biển đúng đắn, biết cấu trúc một nền kinh tế tổng hợp đa ngành, tuy còn chất phác, thô sơ nhưng đã biết khai thác mọi tài nguyên trên nguồn rừng, dưới biển khơi, trong lòng đất...để xuất khẩu, có đội thương thuyền và chiến thuyền đủ lớn đủ mạnh lẹ ra khơi góp phần xây dựng Chămpa hưng thịnh một thời" [127, 6].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về việc bảo vệ quốc gia và các cửa biển, theo &lt;em&gt;Đại Việt sử ký toàn thư&lt;/em&gt; cho biết, năm 1044, thuyền chiến nhà Lý khi tới cửa Tư Dung thì "nghe tin Chiêm Thành đem quân và voi bày trận ở bên nam sông Ngũ Bồ" [63, 308].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Muộn hơn, năm 1069, Lý Thường Kiệt đi tiên phong đem 5 vạn quân đi đường thủy vào đánh Champa, "đến cửa Nhật Lệ [cửa Động Hải] thuyền quân bị thủy quân chiêm chận đánh... Cửa Nhật Lệ rộng, sâu, chiến thuyền lớn vào được, thủy quân Chiêm Thành tập trung ở đó để bảo vệ lãnh thổ, sau này thủy quân Việt vào đánh Chiêm Thành cũng ghé ở đó" [51, 44-55]. Như thế cũng cho thấy sự phòng thủ của Champa là ở cửa biển lớn, sẵn sàng bảo vệ và ngênh chiến với thuyền chiến Đại Việt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên sang thời Trần, lãnh thổ tiếp tục bị thu hẹp, đặc biệt là "mất hai cửa biển quan trọng: cửa Tư Dung (nay là Tư Hiền) thời ấy rất sâu và tiện lợi cho thủy quân, và Đà Nẵng, cửa biển của miền Amaravâti, Indrapura, đất thiêng của dân tộc" [51, 58-59].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào giai đoạn sau thì sự phòng thủ của Champa trở nên kém, đến nỗi thời Trần Anh Tông, có lần Đoàn Nhữ Hài đi sứ đến Trà Bàn, đến cửa biển Ti Ni (tức cửa Thị Nại) của Chiêm là nơi thương thuyền các nơi tụ tập đông, tuyên bố việc cấm buôn bán rồi đem bảng yết thị treo lên. Với lực lượng yếu dần, quân Champa thường quấy phá, cướp bóc nhân dân ven biển Đại Việt nhưng không có khả năng ở lại mà thường rút lui.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;1.2.2. Bảo vệ vùng biển miền Trung thời Đại Việt&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ rất sớm người Việt đã biết đến biển và sử dụng tàu thuyền đi biển song tư liệu về thuyền chiến trên biển không được nói cụ thể. Các tác giả cuốn Quân thủy khẳng định: "Quân thủy Việt Nam có lịch sử lâu đời. Có thể nói qúa trình hình thành nhà nước Văn Lang từ ba bốn nghìn năm trước đây cũng chính là là qúa trình hình thành những cơ sở vật chất đầu tiên của quân thủy cổ đại Việt Nam. Thuyền chiến được khắc trên các trống đồng là hình tượng tiêu biểu cho quân thủy buổi bình minh đó" [129, 418]. Minh chứng cho luận điểm này, có thể tham khảo các tư liệu khảo cổ học trên các rìu hình thuyền (văn hóa Đông Sơn), hình thuyền chiến trên trống đồng Ngọc Lũ, thạp Đào Thịnh [PL 2]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào giai đoạn sau, đặc biệt là vào giai đoạn đất nước chia cắt, tình hình chiến tranh trong các thế kỉ XVI-XVII, cùng với nhu cầu bảo vệ, thực thi chủ quyền vùng biển trước sự xâm nhập của thực dân phương Tây đã thúc đẩy quân thủy phát triển mạnh theo hai hướng: tăng cường trang bị và khả năng chiến đấu; mở rộng phạm vi hoạt động trên biển [74, 421].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, do đặc điểm chung của phương Đông, hoạt động bảo vệ biển thời kỳ này lại không thể hiện rõ nét và chưa chuyên nghiệp. Các tác giả &lt;em&gt;Quân thủy&lt;/em&gt; nhận xét: "mặc dù có hoạt động trên biển, nhưng cho đến trước thế kỷ XVII, vùng biển phương Đông này không mấy khi đặt ra nhu cầu giành giật hay bảo vệ quyền lợi trên biển một cách bức bách và thường xuyên như Địa Trung Hải đương thời. Không có những bộ phận lớn thường trực trên biển là nét chung của lực lượng vũ trang phương Đông cho đến tận thời cận đại" [74, 423]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có rất ít tư liệu về việc Đại Việt đã sử dụng thuyền chiến tham gia trong các cuộc chiến tranh bảo vệ biển, tuy nhiên qua các sự kiện có thể suy luận về lịch sử thuyền chiến Đại Việt. Li Tana cho rằng chiếc thuyền đã giết chết Chế Bồng Nga năm 1390 chẳng hạn, là một chiếc thuyền chiến. Theo chúng tôi, có thể thuyền chiến ở Đại Việt có sớm hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một số thông tin của Toàn thư nói về đóng thuyền thời xưa như: tháng 10-1034, đóng thuyền lớn Vạn An [63, 290]. Tháng 8-1037, đóng thuyền Vĩnh Xuân [63, 293]. Tháng 12-1037 đóng thuyền Nhật Quang [63, 294], tháng 10-1167 đóng thuyền Nhật Long [63, 403]. Tháng 10-1190 đóng thuyền Ngoạn Dao [63, 414]. Tháng 7-1194 đóng thuyền Thiên Long [63, 415].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các tác giả sách Quân thủy đã căn cứ trên Việt sử lược và Toàn thư để thống kê tên các thuyền đựơc đóng và nhắc đến trong thời Lý với rất nhiều tên thuyền (xem Bảng 1). Thuyền thời Lý có thể chở hàng trăm người, chưa kể khí giới. Loại thuyền chiến phổ biến là thuyền Mông Đồng. Thuyền đặc chủng là Lâu thuyền và thuyền Hai Lòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Bảng 1: Tên các thuyền được đóng và nhắc đến trong thời Lý [129, 95]&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Năm (N.= Năm)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Đóng thuyền (T.= Thuyền)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;Các sự kiện nhắc đến thuyền (V.= Việc)&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1037&lt;br /&gt;T.Vĩnh Xuân, Nhật Quang&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1043&lt;br /&gt;T.Vài trăm thuyền chiến đánh Chiêm Thành&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1056&lt;br /&gt;V.Rồng hiện, thuyền Kim Phượng đổi thành Tường Long&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1064&lt;br /&gt;V.Rồng hiện thuyền Thanh Lan&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1068&lt;br /&gt;T.Đóng chiến hạm đánh Chiêm&lt;br /&gt;V.Rồng hiện thuyền Vĩnh Xuân, Thanh Lan&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1069&lt;br /&gt;V.Rồng hiện thuyền kim phượng (3 lần), thuyền Cảnh Thắng, Thuyền vua. Thuyền rồng va đá, vỡ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1075&lt;br /&gt;V.Đem thuyền đánh Khâm, Liêm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1076&lt;br /&gt;V.Rồng hiện thuyền vua&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1077&lt;br /&gt;V.Rồng hiện thuyền vua&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1101&lt;br /&gt;V.Rồng hiện thuyền Tường Long&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1106&lt;br /&gt;T.Đóng thuyền hai đáy Vĩnh Long, Chiếm hạm&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1119&lt;br /&gt;T.Đóng Cảnh Hưng, Thanh Lan và thuyền chiến&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1124&lt;br /&gt;T.Đóng Tường Quang hai lòng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1132&lt;br /&gt;V.Đắm thuyền Diên Chương&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1135&lt;br /&gt;T.Đóng nhật Đình, Thanh Lan, Diên Minh&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1147&lt;br /&gt;T.Đóng Vĩnh Long, Thanh Lan, Tường Quyết, Phụng Tiên&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1151&lt;br /&gt;T.Đóng Vĩnh Diệu, Thanh Lan&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1156&lt;br /&gt;T.Đóng thuyền lớn của Ngự Trù và thuyền lớn của Cung nội&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1167&lt;br /&gt;T.Đóng thuyền Nhật Long&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1173&lt;br /&gt;T.Đóng Ngoạn Thủy&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1190&lt;br /&gt;T.Đóng Ngoạn Đạo&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1194&lt;br /&gt;T.Đóng Thiên Long&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;N.1204&lt;br /&gt;T.Đàm Dĩ Mộng chế Lâu thuyền&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;(Chú thích của "Web Giao lưu của những người cùng thời" [Web. GLCNNCT.]: Vì chưa scan bảng liệt kê, nên tạm quy ước các kí hiệu [N., T., V.) như trên)&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào năm 1428 thuyền chiến được trang bị một khẩu “hỏa dong” (súng nòng bằng tre, gỗ lớn, đổ đầy thuốc súng). Li tana cho rằng: "việc bố trí các loại khí giới này cho thấy là đã có sự phân công lao động rõ rệt trên các chiến thuyền...các chiến thuật đánh nhau trên biển cũng đã được áp dụng tại Việt Nam vào thế kỷ XV” [103, 66].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thông thường, khi chuẩn bị đánh Champa, nhà nước cho đóng thuyền chiến, như &lt;em&gt;Toàn thư&lt;/em&gt; chép: "năm 1034, vua thấy sang năm sẽ đánh Chiêm Thành, xuống chiếu sai đóng các chiến hạm hiệu Long, Phượng, Ngự, Xà, Hổ, Báo, Anh, Vũ hơn vài trăm chiếc" [63, 306]. Cho thấy thuyền chiến (chiến hạm) có sớm và những thuyền chiến ấy đã tham gia tích cực vào việc bảo vệ lãnh thổ Đại Việt. Như tháng 2-1043, Chiêm Thành cướp bóc dân ven biển [63, 304], tháng 3-1166 lại quấy phá [63, 403]... Sử gia Ngô Sỹ Liên đã “bàn” về việc này như sau: "Bọn giặc sóng gió ở Chiêm Thành cướp bóc dân ven biển nước ta, thì có thể không đem quân đánh để hỏi tội sao được" [63, 304].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1470, vào đánh Champa, &lt;em&gt;Toàn thư&lt;/em&gt; cho biết Lê Thánh Tông dẫn 25 vạn thủy quân di chuyển bằng đường biển trên các chiến thuyền [64, 322], điều đó ắt phải có một số lượng lớn thuyền chiến mới kham nổi. Việc này cũng do đương đầu với thủy quân Champa, Li Tana cho rằng: "ý muốn đương đầu với hải lực và truyền thống hải chiến của Champa có thể đã thúc đẩy Việt Nam thiết lập hải lực của họ vào thế kỷ XV. Và chính lực lượng thủy quân này đã là cơ sở cho sự phát triển của thủy quân sau này dưới thời các chúa Trịnh và Nguyễn" [103, 67].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc tuần tra, bảo vệ cũng được tiến hành, &lt;em&gt;Toàn thư&lt;/em&gt; cho biết: "tháng 11-1161, vua sai Tô Hiến Thành làm Đô tướng, Đỗ An Di làm phó, đem 2 vạn quân đi tuần các nơi ven biển miền Tây Nam, để giữ yên bờ cõi xa. Vua thân đi đưa đến cửa biển Thần Đầu, huyện Đại An (nay là cửa biển Thần Phù) mới trở về [63, 402]. Năm 1171, vua đi tuần ra cù lao ngoài biển, xem khắp hình thế núi sông [63, 404]. Năm 1467, Tham nghị Thừa tuyên sứ ti châu Hóa là Đặng Thiếp dâng sớ xin "lập bảo để giữ cửa bể Tư Dung, lấp cửa Eo (tức cửa biển Tư Hiền và Thuận An) [64, 293]. Tháng 10-1469 có sắc chỉ "ai bắt được giặc biển thì sẽ được tặng thưởng" [64, 308]. Tháng 1-1470, "tuyển các vũ sĩ vệ Kim Ngô đi bắt giặc biển"... [64, 312]...&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúa Trịnh cũng có khá nhiều thuyền chiến, năm 1680, A. De Rhode cho biết chúa Trịnh có 500-600 thuyền. Tuy nhiên về sau, lượng thuyền giảm, Dampier cho rằng nó chủ yếu là "phô trương". Trong các lần đánh nhau với Đàng Trong, chúa Trịnh có dùng đến thủy binh, thuyền quân vào đến cửa Nhật Lệ. Linh mục Koffler vào thời điểm năm 1766, cho rằng chúa Nguyễn có 50 đội thủy binh [113, 45].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời chúa Nguyễn ở Đàng Trong, theo GS. Trần Quốc Vượng đây cũng là thời kỳ “phục hưng của các cảng thị miền Trung” [126, 350]. Và đây cũng là bước đột phá đặc biệt, chính vì vậy việc phòng thủ cũng phải gắn liền. &lt;em&gt;Giáp Ngọ niên bình nam đồ&lt;/em&gt; được Li Tana khai thác, cho biết nhiều cảng thị, và đồn phòng thủ Đàng Trong [PL 5]. Li Tana cho rằng thời điểm trong bản đồ khoảng năm 1690 nhưng Anh Vân phát hiện ra năm 1690 không phải năm Giáp Ngọ mà là năm Canh Ngọ [16, 34-45].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo A. de Rhoded, thời kỳ này có khoảng 200 thuyền, tập trung ở ba nơi chính: một là bến con sông lớn (sông Gianh) 68 chiếc, hai là Kẻ Chiêm, ba là ở biên giới nước Chàm (vùng Khánh Hoà ngày nay) [113, 45].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều này được Mục sư Choisy cho biết thêm: “ngoài các chiến thuyền của nhà vua, các trấn thủ của ba dinh chính trong vương quốc, nơi đó có hải cảng tốt cũng có chiến thuyền trấn thủ. Dinh Cát ở biên giới với Đàng Ngoài có 30 chiếc; trấn thủ dinh Chiêm có 17 chiếc; trấn thủ dinh Niaroux [sau được xác định là bắc Phan Rang. Tg] có 15 chiếc” [17, 266].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy cho thấy chúa Nguyễn bố trí lực lượng thủy quân trên ba vùng chiến lược nhằm chống sự đe dạo từ phương bắc (quân Trịnh), phương nam (Champa) và một lực lượng bảo vệ cửa biển "Kẻ Chiêm", đại diện cho mặt kinh tế, thương mại và là vùng "yết hầu" của chúa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mục sư De Choisy, trong hồi ký về sứ Đàng Ngoài và Đàng Trong, cho rằng “Đàng Trong được tạo lập và tồn tại do chiến tranh nên kỷ luật quân đội rất được tuân thủ” [17, 264]. Còn Cristoforo Borri cho biết người Đàng Trong đã vớt được 60 khẩu đại bác, trong đó có những khẩu rất lớn của tàu chiến Bồ Đào Nha và Hà Lan bị đắm vì đá ngầm. Và “người Đàng Trong rất thành thạo trong nghệ thuật sử dụng các đại bác này, họ biết nạp đạn và bắn giỏi hơn cả người Âu châu. Họ tự huấn luyện để đảm bảo khả năng bằng các cuộc thực tập liên tục và các cuộc bắn bia, họ khá thành công vì thế họ kiêu ngạo về chuyện đó và tự tán tụng giá trị của mình; khi các tàu Âu châu đến hải cảng của họ, các thủy binh của nhà vua liền thách đố các xạ thủ của chúng ta, những người này biết rằng không thể so sánh với họ nên tránh cuộc thách thức chừng nào họ tránh được” [15, 401]. Ông cho biết thêm, người Đàng Trong “có hơn 100 chiến thuyền. Và như thế họ trở nên mạnh trên mặt biển” [15, 402].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với người phương Tây, những quốc gia có hải quân hoạt động trên các đại dương thì họ không đánh giá cao thủy quân thời chúa Nguyễn, theo Poivre, đó chỉ là những chiếc thuyền "ôm sát bờ biển" [103, 67]. Thực ra không phải do Đại Việt không đóng được thuyền lớn mà chính là nhu cầu sử dụng thuyền nhỏ, chính nó mới đem lại hiệu quả thực tiễn cao nhất khi sử dụng ở vùng biển Đại Việt vốn nhiều cửa sông, được các triều đại vận dụng vào vận tải và bảo vệ cửa biển dày đặc của mình. Như Phan Khoang cho biết: "bấy giờ quân Mạc thường đi đường biển vào cướp, nên từ năm Canh Thân (1560), chúa Tiên đã đặt đồn ở các cửa biển để giữ các miền duyên hải" [51, 111]. Vậy nên thuyền ôm sát bờ biển là có cơ sở thực tiễn của nó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau này, khi chúa Nguyễn cho xây dựng lũy Trường Dục và Động Hải (Nhật Lệ) thì hệ thống phòng thủ ở đây được ca tụng là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;“Mạnh khôn vượt được Thanh Hà,&lt;br /&gt;Dẫu rằng có cánh khó qua lũy Dài” &lt;/em&gt;[90, 36].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bên cạnh đó, với tầm quan trọng của sự phòng thủ, các công trình phụ trợ được tiếp tục xây dựng. Đáng chú ý là lũy Trường Sa do danh tướng Nguyễn Hữu Dật [78, 154-167] chỉ huy đắp năm 1633, trên bãi cát giữa Động Hải và cửa Tùng, đề phòng đối phó khi địch không đổ lên Nhật Lệ, nó có tác dụng ngay trận đánh năm đó [51, 250]. Cũng chính Nguyễn Hữu Dật xin đặt đài hỏa hiệu ở các cửa biển Quảng Bình để truyền tin được nhanh chóng [51, 255]. Tiếp đó lũy Trấn Ninh xây dựng năm Nhâm Dần (1662) để bảo vệ phía đông Động Hải và giữ đường biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc chiến tranh năm Nhâm Tý (1762), trong một đợt chuẩn bị phản công, chúa Nguyễn đã bố trí lực lượng khá lớn trên một địa bàn trải dài khắp các cửa biển: "sai đôi Hữu binh và cơ Tam thủy giữ cửa biển Tư Dung, đội Hậu thủy giữ cửa Eo và huy động hương binh 5 huyện đóng giữ bờ biển Trường Sa, tức là dọc theo bờ biển từ Động Hải đến Tư Hiền" [51, 288]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những vị trí hiểm yếu mang tính chiến lược mà chúa Nguyễn đã bố phòng tỏ ra hiệu quả, đến nỗi sau này khi quân Trịnh vào đánh Thuận Hóa, chúa Trịnh trong bài dụ thiên hạ đã phải thừa nhận rằng trước đó "cũng muốn treo cờ ở ải Hải Vân, cho ngựa uống nước ở sông Bình Giang nhưng thế chưa thừa được, còn phải chờ đợi" [51, 199].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về huấn luyện thủy quân, sử nhà Nguyễn cho biết, tháng 7-1642, một hôm chúa ngự thuyền đi chơi cửa Eo, thấy thủy quân không được chỉnh tề, bèn ra lệnh ba huyện Hương Trà, Quảng Điền và Phú Vang làm trường thao diễn thủy quân... Từ đấy trở đi thủy quân đều tinh luyện" [79, 55].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các chúa Nguyễn cho xây dựng những căn cứ hải quân, GS. Huỳnh Lý cho biết: "Tôi đã xem một bản đồ tình báo của một hạm trưởng Pháp gửi lên Bộ trưởng bộ Hải quân, vẽ năm 1757, vẽ vùng bờ biển từ Huế và cửa Thuận, vào đến Hội An và Thanh Chiêm, trong đó vẽ cả sông Hương, sông Cổ Cò từ vịnh Đà Nẵng vào Hội An và sông Thu Bồn cho đến Thanh Chiêm. Chúng ta biết rằng Thanh Chiêm là trại Thủy Quân, cũng là nơi ta thu thuế các tàu buôn. Trong bản đồ ấy chúng có vẽ cả thuyền chiến của ta, nhìn ngang, nhìn dọc và nhìn từ đằng lái- Mỗi be thuyền có 25 tay chèo, và chúng bảo dài độ 45m, rộng 4,5m, có hai đại bác nhẹ” [62, 106].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thuyền chiến được mô tả: "đầu thuyền ngồi một vị quan, đuôi thuyền đứng một người cầm lái, giữa thuyền đứng 64 quân nhân đứng chèo. Giữa khoang thuyền có 4 cọc nhọn sơn son, trên bắc ngang một cây mõ gỗ, một lính ngồi gõ mõ làm nhịp cho những người đứng chèo. Thuyền cạy qua tả là qua tả, bát qua hữu là qua hữu... thuyền dài mà hẹp như hình Long chu, mũi rất cao" [103, 68].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lê triều hội điển cho biết kích thước của thuyền lớn ở Đàng Ngoài dài 65 thước (26m), rộng 10 thước. Còn P. Poivre cho biết Đàng Trong cũng có kích thước tương tự [103, 68]. Các tác giả của Quân thủy cho rằng thời kỳ này thuyền Đàng Ngoài mang đặc tính "giang thuyền" còn Đàng Trong thì mang tính "hải thuyền". Nhận định này theo Li tana là "hay" nhưng phải được kiểm chứng [103, 68]. Chúng tôi cho rằng nó có lý bởi truyền thống đi biển của cư dân nơi đây và là vùng nhiều cửa sông, lại thường xuyên di chuyển từ cửa sông này qua sông khác mà chỉ có một cách là bằng đường biển nên thuyền mang đặc tính "hải thuyền" là có thể.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về lực lượng, Borri cho biết Đàng Trong luôn có hơn 100 chiến thuyền trang bị trong tư thế sẵn sàng. Bowyear lại cho rằng năm 1695, Đàng Trong có 200 chiến thuyền lớn (50-76 tay chèo) và tới 500 chiến thuyền nhỏ (40-44 tay chèo) [103, 68]. Choisy cho rằng năm 1685, có 131 thuyền chiến [17, 265]. Người Hà Lan, năm 1642 cho rằng Đàng Trong có 230-240 thuyền chiến; mỗi thuyền có 64 người gồm người chèo thuyền và binh lính, mỗi thuyền trang bị một khẩu súng thường là bắn 4-10 đạn sắt và 2 khẩu súng lớn [103, 69].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về số lượng thuyền chiến chúng ta có thể suy luận rằng: tất cả số liệu ấy tùy thuộc vào con mắt quan sát của họ, trên thực tế thuyền chiến và thuyền vận tải có thể "hoán đổi" khi gặp chiến tranh hay khi hoà bình. Vì thế số lượng thuyền chiến rất khó chính xác, đặc biệt là trong con mắt của người phương Tây, họ ít có khả năng chứng kiến các trận hải chiến ở Việt Nam đương thời. Thủy quân Đàng Ngoài nhiều hơn hẳn Đàng Trong nhưng ngược lại, thủy quân Đàng Trong lại quen với mặt biển hơn. Đó là một lợi thế so sánh quan trọng mỗi khi đụng độ phần thắng thường là Đàng Trong.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tưởng cũng cần lưu ý về hệ thống thông tin liên lạc. Chúa Nguyễn sở dĩ chiếm ưu thế trong các cuộc đụng độ không chỉ vì quân đội, thuyền chiến mà còn nhờ có hệ thống tuyền tin tốt: trạm canh và đội tuần hải, nghĩa là truyền tin trên mặt đất và trên biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chúa Nguyễn sẵn sàng bảo vệ vùng biển của mình như năm 1559, tàu Tây Ban Nha đã bị lực lượng phòng hải của chúa cảnh cáo: "mờ sáng ngày 3-9-1559, quân Tây Ban Nha thấy cả một rừng lưỡi giáo tua tủa quanh các núi dọc nơi đậu thuyền, đồng thời có nhiều chiếc thuyền mang chất cháy đi hàng ba nhằm thẳng tàu Tây Ban Nha tiến tới; cùng lúc đó, pháo từ các đồn lũy trên bờ phát hỏa. Cảm thấy bị phục kích và tiến công, hạm thuyền Tây Ban Nha vội bỏ chạy và nhờ trận gió tây, quân Tây Ban Nha mới thoát nạn" [50, 89].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1585, một sự nhầm lẫn nhưng cũng đáng lưu ý về sức mạnh thủy quân. Đại Nam thực lục tiền biên chép: “Năm Ất Dậu (1585), bấy giờ có tướng giặc nước Tây dương hiệu là Hiển Quý đi 5 chiếc thuyền lớn đến đậu ở Cửa Việt để cướp bóc ven biển. Chúa sai hoàng tử thứ 6 lĩnh hơn 10 chiếc thuyền, tiến thẳng đến cửa biển, đánh tan 2 chiếc thuyền giặc. Hiển Quý sợ chạy... từ đó giặc biển im hơi" [79, 32].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự kiện này, GS. Nguyễn Thế Anh vẫn cho rằng sự thật là hải tặc: "sự thật là hải tặc người Nhật, Shirahama Kenki, sẽ còn được nhắc đến 16 năm sau trong một lá thư chúa Nguyễn Hoàng gửi năm 1601 cho Ieyasu" [6, 363]. Sau này sự việc được xác định là "đánh nhầm" vào thuyền của một thương gia Nhật Bản.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Muộn hơn, vào giữa thế kỷ XVI, hải quân Đàng Trong lại có những đụng độ với người thuyền chiến Hà Lan. Sự kiện này được nhiều tác giả nói đến. Bắt đầu từ lá thư chúa Trịnh gửi cho toàn quyền công ty Đông Ấn Hà Lan (Vernigde Oastiondische Copagnic- VOC) những năm 30 của thế kỷ XVII, trông cậy vào lực lượng hải quân mạnh của Hà Lan có thể đánh thắng thủy quân Nguyễn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thư có đoạn: "xin hãy gửi cho bản quốc 50 thuyền chiến với binh lính chọn lọc và đại bác có sức công phá mạnh, và bản quốc sẽ gửi một số binh lính đáng tin cậy để dẫn các thuyền chiến của Quý quốc vương đến Quảng Nam làm quân tăng viện. Cùng lúc, quân bản quốc sẽ tấn công Thuận Hóa" [46, 243]. Đó là cái cớ của người Hà Lan can thiệp vào Đàng Trong.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một lý do làm cho người Hà Lan có mâu thuẫn với chúa Nguyễn là họ cho rằng chúa Nguyễn đã cướp bóc hàng hóa của hai tàu Hà Lan bị đắm gần bờ biển Cochinchina, người ta cho rằng, một trong hai tàu này, tên là Grootenbrock, chở một khối lượng hàng hóa trị giá 23580 real [46, 244]. Ngoài vụ “tai tiếng thế kỷ”, cho là chúa Nguyễn "cướp" hai chiếc tàu thì tháng 11-1641, hai con tàu Hà Lan là Eulden Buis và Maria de Medicis bị đắm gần bờ biển Cochinchina, sát đảo Champelo (Cù Lao Chàm), 82 người sống sót đều bị bắt giam tại Hội An, Cochinchina tịch thu cả hai con tàu [46, 244].&lt;br /&gt;Sự đụng độ tiếp theo bởi liên tiếp các sự kiện, và năm 1644, (tài liệu của Li Tana cho là năm 1643 [103, 227-232]). Hà Lan tiếp tục cử một hạm đội đội khác do Pieter Beak dẫn đầu, được lệnh bắt giữ càng nhiều dân Cochinchina càng tốt khi đi dọc bờ biển. “Tuy nhiên cách sông Gianh chừng 5 dặm về phía nam (Tiền biên nói là cửa Eo. Tg), người Hà Lan ngạc nhiên khi nhìn thấy 50 thuyền chiến của chúa Nguyễn lao về phía họ. Theo Lê Thành Khôi: "cuộc chiến này quả thật là một tai họa. Tàu De Wijdeness (tàu hoa tiêu) bị triệt tiêu, Beak bị giết, hai tàu khác phải mở đường máu tháo chạy". Còn Buch thì ghi lại chi tiết hơn, ông cho rằng tàu Wijdeness bị cháy và nổ tung vì chính kho thuốc súng dự trữ của nó, tất cả thủy thủ trên tàu, kể cả Beak đều chết. Một thư tịch của Việt Nam cho rằng người Hà Lan qúa mất tinh thần đến nỗi tự phá tàu De Wijdeness. Theo các tư liệu Hà Lan, trong cuộc đối đầu này, có 7 chiến thuyền của Quinam bị phá huỷ, 700-800 lính bị chết” [46, 246].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều đáng suy nghĩ ở đây chính là tính chủ động tấn công của chúa Nguyễn đối với kẻ thù. Rõ ràng chúa Nguyễn có thái độ cương quyết đối với người Hà Lan, sẵn sàng cho một cuộc chiến và luôn ở vị trí chủ động. Hai chiến thắng của chúa Nguyễn phản ánh rõ điều đó. Biết đương đầu và chiến thắng với một hạm đội thiện chiến, có kinh nghiệm, từng bá chủ vùng biển như Hà Lan, cho thấy lực lượng hải quân của chúa Nguyễn thuộc loại mạnh, khả dĩ bảo vệ được vùng biển của mình&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự kiện trên được chép lại trong &lt;em&gt;Đại Nam thực lục tiền biên&lt;/em&gt;, như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 9-1644, "Thế tử Dũng lễ hầu (tức Phúc Tần, Thái tông Hiếu triết hoàng đế) đánh giặc Ô Lan ở cửa Eo. Bấy giờ giặc Ô Lan đậu thuyền ngoài biển, cướp bóc lái buôn. Quân tuần biển báo tin. Chúa đương bàn kế đánh dẹp. Thế tử tức thì mật báo với Chưởng cơ Tôn Thất Trung (con thứ tư của Hy Tông), ước đưa thủy quân ra đánh. Trung lấy cớ chưa bẩm mệnh, ngần ngại chưa quyết. Thế tử đốc suất chiến thuyền của mình tiến thẳng ra, Trung bất đắc dĩ cũng đốc suất binh thuyền đi theo, đến cửa biển thì thuyền Thế tử đã ra ngoài khơi. Trung lấy cờ vẫy lại, nhưng thế tử không quay lại. Trung bèn dục binh thuyền tiến theo. Chiếc thuyền trước sau lướt nhanh như bay. Giặc trông thấy cả sợ, nhằm thẳng phía đông mà chạy, bỏ rơi lại một chiếc thuyền lớn. Thế tử đốc quân vây bắn. Tướng giặc thế cùng phóng lửa tự đốt chết. Thế tử bèn thu quân về... Chúa cười nói rằng: "trước kia tiên quân ta đã từng đánh phá giặc biển, nay con ta cũng lại như thế. Ta không lo gì nữa" [79, 55-56]. Như thế, có một số thông tin trùng hợp, nhưng năm tháng và địa điểm có khác.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phả ký Trấn nhân tiền liệt biểu (do Trương Phúc Mạc soạn thời Minh Mạng, (Ngô Thời Đôn giới thiệu [37]), cho biết một nhân vật là Trương Phước Thức từng làm trấn thủ. Ông là con thứ sáu của Trương Phước Sơn và là cháu của Trương Phước Côn (hay Trương Phước Khoa, người từng giúp chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Họ đều là những người giỏi thủy chiến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuốn "Phả ký" chép về việc đánh nhau với tàu Hà Lan có chỗ chưa thống nhất với các sách khác đã nêu. Nội dung như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Lúc bấy giờ có hơn 10 chiếc thuyền của nước Hoa Lan, trong đó có một chiếc lớn nhất tên là Hiển Quý, dẫn đầu các chiếc kia đậu ở cửa biển Đại Chiêm, cậy có nhiều súng đồng cho là nước vô địch, mặc sức tung hoành uy hiếp Quảng Nam, như sắp muốn chiếm đất ấy. Quan ở địa phương báo khẩn. Tiên quân mật triệu ông về triều, bàn mưu cùng ông, ông xin đi. Nhân đó, tiên quân sắc cho ông hiệp cùng Dũng Quận công dẫn một đoàn 30 chiếc Kim Đồ Hải Đạo thuyền đến nơi ấy tùy cơ đánh giữ. Hòa Lan thấy quân của mình đã đến mà quân của họ thì lớn. Kim Đồ Hải Đạo nhỏ bé khó đánh nổi nên càng khinh nhờn, ngày đêm uống rượu, ca hát, xem như không có người bên cạnh. Ông thừa sự bất ý ấy, đêm khuya đem thuyền chấp lệnh ngầm đến bên thuyền Hiển Quý kia. Thuyền kia to, cao, khó dùng sức mà đánh. Ông bèn đem phép dùng đạn lửa do tổ truyền lại (tục gọi là trái phá) nạp vào đại bác bắn lên thuyền kia. Đạn lửa rơi vào thuyền, nhằm kho thuốc súng, cháy lên. Bọn giặc trở tay không kịp, đều chết trong lửa thiêu và chìm xuống chỗ sâu. Các thuyền còn lại thấy đại thuyền đang chìm, kinh hoàng, liền cắt đứt đội hình, chạy tan tác, không giám nhìn quân Nam. Con thuyền lớn bị chìm nát ấy, ông đưa dân ở bờ biển lặn xuống nước kéo lên hơn 30 khẩu đại bác bằng đồng lớn, đưa về Thuận Hóa, đặt ở trước vương phủ, để truyền mãi như quốc bửu, đến nay còn sự tích vẻ vang" [37, 582-583].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;PGS.TS. Đỗ Bang trong bài viết “Những chiến công chống ngoại xâm vùng biển dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong” [12] cũng khai thác cuốn Phả ký trên và cho rằng nhân vật có công đánh thắng tàu Hà Lan là Trương Phúc Hùng (Hùng Lộc hầu) và đoan chắc đây là sự kiện diễn ra năm 1644. Tác giả cũng cho rằng “diễn biến trận chiến có nhiều tình tiết mới lạ và phong phú so với Đại Nam thực lục tiền biên” [12, 66-67].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự kiện này về nội dung có tương đồng sự kiện 1644 nhưng nghiên cứu thời điểm thì có thể là sự kiện muộn hơn. Theo Thực lục Trương Phước Thức được sai làm Trấn thủ dinh Bố Chính vào tháng 10-1715, tức là 71 năm sau chiến thắng Hà Lan [79, 136]. Thời điểm này không còn tàu Hà Lan tới Đàng Trong, hơn nữa nếu căn cứ trên Trấn nhân tiền liệt biểu thì Trương Phước Côn là người giúp Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635), Trương Phước Sơn tham gia trận đánh quân Trịnh năm 1655 dưới quyền Nguyễn Hữu Tiến thì Trương Phước Thức “khó” tham gia trận đánh năm 1644. Ấy vậy lại cũng nhắc tới Dũng Quận công Nguyễn Phúc Tần! Chúng tôi chưa có điều kiện để tiếp cận tư liệu gốc nên chỉ nêu lên như một sự hoài nghi về thông tin “tiền hậu bất nhất” của cuốn "Phả ký".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Muộn hơn, năm 1702, Anh muốn chiếm Côn Đảo nhằm đặt cơ sở quân sự tại vùng biển Đàng Trong nhưng bị quân chúa Nguyễn đẩy lui. Tiền biên cho biết: “Giặc biển là Người Man An Liệt (Anh), có tám chiếc thuyền đến đậu ở đảo Côn Lôn, trưởng là bọn Tô Thích Già Thi 5 người tự xưng là nhất ban, nhị ban, tam ban, tứ ban, ngũ ban cùng đồ đảng hơn 200 người, kết lâp trại sách, của cải chứa đầy như núi, bốn mặt đều đặt đại bác. Trấn thủ dinh Trấn Biên là Trương Phúc Phan, đem việc báo lên, chúa sai Phúc Phan tìm cách trừ bọn ấy” [79, 115].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rõ ràng phải thừa nhận về sức mạnh của thủy quân Đàng Trong thời các chúa Nguyễn. Nó được xây dựng trên một yêu cầu cụ thể về bảo vệ, có tính chiến đấu trên thực tiễn cao ngay từ những ngày đầu. GS. Huỳnh Lý đánh giá: “Nguyễn Hoàng là một nhà chính trị kiêm quân sự, đặc biệt có tài dùng kinh thuyền đột kích và tận truy giặc biển. Ông đã bắt đầu xây dựng dinh Quảng Nam thành một căn cứ thủy lục lớn làm hậu thuẫn cho Phú Xuân... Bọn lái buôn Âu châu đều kiêm nghề cướp biển. Bởi vậy ai muốn mua bán với chúng phải có thực lực võ trang. Dũng Lễ Hầu (Nguyễn Phúc Tần) xây dựng căn cứ thủy lục quân ở Thanh Chiêm (Điện Bàn), dựa vào sức mạnh của quân lực mình, buộc các tàu buôn nước ngoài nộp thuế đàng hoàng và mua bán phải chăng” [62, 105].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc chiến thắng những đế quốc hằng hải, từng làm chủ mặt biển như Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh là dẫn chứng cho những nhận định trên. Điều đó cũng làm cho người châu Âu khi thuật lại trận đánh đó đều "tỏ ra kinh sợ".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời Tây Sơn, do đặc điểm chiến tranh liên miên nên lực lực quân đội chiếm một vị trí quan trọng và không ngừng được tăng cường. Tư liệu thời kỳ này phần nhiều mất mát nhưng qua Tiền biên cũng cho thấy vị trí của các cửa biển luôn được coi trọng. Miền Trung chính là vùng tranh chấp quyết liệt của Tây Sơn và Nguyễn Ánh, các cuộc hành quân phần nhiều được xuất phát từ cửa biển. Khí tài, quân đội cũng được vận chuyển bằng đường biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các tác giả cuốn Quân thủy đánh giá rất cao quân thủy thời Tây Sơn, cho rằng: "quân thủy thời Tây Sơn, là đỉnh cao nhất, đồng thời tập trung những đặc điểm căn bản của qúa trình phát triển quân thủy trong những thế kỷ XV-XVIII... Quân thủy Tây Sơn là đỉnh cao của giai đoạn quân thủy hỏa khí, cũng đồng thời trong một số mặt, là đỉnh cao của toàn bộ lịch sử phát triển quân thủy nước ta thời kỳ cổ trung đại" [129, 422]. Nhận định này cần phải nghiên cứu thêm, bởi trong cuốn sách này (Quân thuỷ), các tác giả cũng chỉ mới dừng lại ở thời Tây Sơn mà chưa nghiên cứu quân thuỷ triều Nguyễn trên đầy đủ phương diện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong những năm khởi đầu (1771-1775), theo lời kể của một cha cố người Tây Ban Nha, quân thủy Tây Sơn “chưa đủ sức đánh trả các cuộc hành quân của quân thủy Nguyễn, mà ngoài việc vận chuyển binh lương, chỉ mới thực hiện những cuộc tuần tra trên biển..., ngăn cản không để nhà vua (chúa Nguyễn) liên lạc liên lạc với các tỉnh giữa Phú Yên và Raygon... người ta không thể lưu thông đường bộ cũng như đường biển” [129, 236-237].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về sau quân thủy Tây Sơn có bước phát triển nhảy vọt, chuyển từ tuần tra sang tiến công, là “binh chủng quan trọng bậc nhất trong quân đội Tây Sơn” [129, 328]. Còn Nguyễn Huệ thì đánh giá tàu phương Tây rằng: “có gì đáng lạ để nói với ta về những chiếc tàu đồng” [129, 330].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau thắng lợi của quân Tây Sơn là một cuộc chạy đua vũ trang của quân Tây Sơn với Nguyễn Ánh mà cả hai cùng chú trọng là tăng cường thủy quân theo hướng quân thủy biển: hải quân. Theo các tác giả Quân thủy, để làm được điều đó, Tây Sơn đã tập trung vào bốn việc chính: 1/ Tăng cường hệ thống bố phòng các cửa biển và hải cảng; 2/ Đóng thêm thuyền chiến lớn và các biện pháp nhằm tăng sức chiến đấu của thuyền chiến; 3/ Sử dụng “cướp biển”; 4/ Khai thác kỹ thuật quân sự phương Tây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tây sơn cũng đã khôi phục đội Hoàng Sa, năm 1793, John Barrow cũng tận mắt thấy đội Hoàng Sa ở Đà Nẵng. Đội quân “cướp biển” thì bổ sung thêm những “du thuyền”, có nhiệm vụ tuần tra, chặn đánh thuyền lương của địch trên biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các cảng thương mại cũng như cảng biển được bố phòng nghiêm ngặt, tại đây nhiều pháo đài được thiết lập bảo vệ cửa cảng. Thuyền chiến các loại dàn trong cảng làm thành những thủy trại nổi trên mặt nước.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi chiến sự xảy ra, Tây Sơn còn dùng xích sắt, đóng cọc và thả “rồng cỏ” cản địch ở cửa cảng. Xung quanh đó còn chốt giữ nhiều đơn vị “lính thủy đánh bộ” sẵn sàng chiến đấu bảo vệ cảng. Có thể nói dưới thời Tây Sơn, mỗi cảng biển là một căn cứ hải quân lớn. Đây là hiện tượng hiếm thấy trong quân thủy Trịnh, Nguyễn trước đây. Điều đó có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành quân chủng hải quân độc lập [129, 332-335].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mô tả của Jumilla và Barizy về hoạt động của quân Tây Sơn chống lại hải quân Nguyễn Ánh ở các cảng Thị Nại (1792 và 1801), Tư Dung (1801) cho thấy khá chi tiết bố phòng của quân Tây Sơn trên một cảng biển. Trong đó, pháo trên các đồn bảo cửa cảng, thuyền chiến bố trí trong cảng và hệ thống chướng ngại cản thuyền giặc là ba yếu tố liên kết chặt chẽ, tạo thành một hệ thống bố phòng hoàn chỉnh [129, 334].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, hai bên đều có thủy quân mạnh. Năm 1793, phái bộ Anh Macartney ghé vào Quảng Nam có thấy xưởng đóng thuyền lớn, ước lượng trọng tải được 150 tấn. “Nguyễn vương có thuyền bọc đồng, chế tạo một phần theo kỹ thuật Tây phương. Nguyễn vương mấy lần ra đánh Quy Nhơn đều dùng thủy quân, đợi thuận gió cho binh thuyền đi, nên đã có tên là "giặc mùa". Trận đánh Thị Nại (28-2-1801), bên Nguyễn vương có 90 thuyền thì bên vua Cảnh Thịnh có 2 thuyền đại hiệu chở súng lớn, 20 thuyền vừa, 100 thuyền nhỏ, đóng trong vụng. Tháng 5 năm Tân Dậu, Nguyễn vương ra đánh Phú Xuân bằng đội binh thuyền: 45 thuyền chở súng, 300 thuyền chở trên 10000 lính. Hai bên thắng phụ đều nhờ vào thủy quân là chính" [113, 45-46].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy mặc dù có sự quan tâm khác nhau nhưng các triều đại trong lịch sử Việt Nam luôn chú ý đến phòng thủ ở các cửa biển, vùng biển chiến lược. Bên cạnh hệ thống phòng thủ là việc thường xuyên trang bị thuyền chiến, vũ khí. Và dĩ nhiên họ sẵn sàng thực thi chủ quyền khi cần thiết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;· +++ Việt Nam có vùng biển dài rộng, lớn gấp 3 lần diện tích đất liền. Miền Trung là nơi có vùng biển dài và rộng nhất, lại có nhiều đảo và quần đảo quan trọng, có vị trí chiến lược trong an ninh quốc phòng và kinh tế. Chúng ta rất cần lưu ý đến vai trò của biển đảo trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc hôm nay, bởi nó có quan hệ đến việc phát triển trường tồn của dân tộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;· +++ Do “dựa lưng” vào Trường Sơn nên mắt phải nhìn ra biển. Mặc dù truyền thống hướng biển của cha ông còn nhiều điều phải tiếp tục nghiên cứu nhưng tất cả các triều đại trong lịch sử Việt Nam đều xem biển là một phần máu thịt quốc gia, vì thế cần phải bảo vệ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Champa thực sự làm chủ vùng biển miền Trung từ đầu công nguyên. Họ có chiến thuyền và thủy quân giỏi để bảo vệ quốc gia từ phía biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc Nam tiến của dân tộc, vùng biển rất được quan tâm, đặc biệt là thời chúa Nguyễn và Tây Sơn, chủ quyền vùng biển được khẳng định mạnh mẽ, quyết liệt. Đây là thời kỳ bùng nổ có bước đột phá trong cái nhìn về biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;CHƯƠNG 2&lt;br /&gt;TỔ CHỨC PHÒNG THỦ VÙNG BIỂN CÁC TỈNH MIỀN TRUNG&lt;br /&gt;DƯỚI TRIỀU NGUYỄN: THỜI KỲ 1802-1858&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tổ chức và hoạt động phòng thủ vùng biển miền Trung được bắt nguồn từ nhận thức đúng đắn của các vua Nguyễn về vị thế của biển đảo cũng như vị trí đặc biệt của Kinh đô và các cửa biển quan trọng. Triều Nguyễn đã quan tâm tổ chức, xây dựng và huấn luyện quân đội, tổ chức thông tin liên lạc và xây dựng hệ thống phòng thủ vùng biển nơi đây với tất cả khả năng của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2.1. VỊ THẾ CỦA BIỂN TRONG CON MẮT CÁC VUA ĐẦU TRIỀU NGUYỄN&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Ánh - Gia Long là người hiểu về vị trí quan trọng của biển bởi một phần đời của ông phải sống trên biển; con người ấy hẳn nhiên biết quý trọng biển cả. Bàn về cơ lược dùng binh, nhớ tới những năm tháng bôn ba, Gia Long dụ rằng: "Côn Lôn, Phú Quốc, Thị Nại, Cù Mông trẫm cùng với các tướng sĩ các ngươi đã trăm trận đánh vất vả mới có ngày nay. Lúc yên đừng quên lúc nguy. Đó thực là đạo giữ nước yên dân" [79, 811]. Chính vì thế, bảo vệ quốc gia từ phía biển luôn được Gia Long quan tâm, đề phòng bằng những hệ thống phòng thủ vùng biển cũng như việc tuần tra, khẳng định chủ quyền trên vùng biển, đảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1803, nước Hồng Mao (Anh) “sai sứ đến dâng phương vật, dâng biểu xin thông thương. Lại xin cho người nước ấy ở lại Đà Nẵng, đi lại buôn bán”. Gia Long cho rằng: “tiên vương kinh dinh việc nước, không để người Hạ lẫn với người Di, đó thực là ý đề phòng từ lúc việc còn nhỏ. Người Hồng Mao gian giảo trí trá, không phải nòi giống ta, lòng họ hẳn khác, không cho ở lại, ban cho ưu hậu mà khiến về, khước từ những phương vật mà họ hiến” [79, 603]. Sau đó Hồng Mao thêm hai ba lần dâng thư xin thông thương, Gia Long đều không bằng lòng, tất cả chỉ là ý đề phòng từ xa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 9 năm 1806, làm xong sách &lt;em&gt;Nhất thống dư địa chí&lt;/em&gt;: núi sông hiểm trở, đường xá xa gần, giới hạn, nguồn sông, cửa biển… đều phải chép hết, để phục vụ cho sự hiểu biết về vùng biển, phục vụ đắc lực trong công tác hải vận và tuần phòng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Đại Nam nhất thống toàn đồ&lt;/em&gt; vẽ thời Minh Mạng cho biết diện mạo khác hoàn chỉnh của cương vực, lãnh thổ Việt Nam. Theo phiên âm của TS. Huỳnh Công Bá, các cửa sông, cửa biển, tấn sở được ghi chép ở miền Trung như sau: Chính Đại, Hãng tấn, Bạng tấn, Cờn hải, Hội hải, Nhượng hải, Tấn hải, Khẩu hải, Linh giang, Nhật Lệ, Tùng dương, Việt An, Thuận An, Tư Hiền, Cảnh Dương, Chu Mại, Hải Vân, Câu Đê hải khẩu, Đại Cát, đại Cát Mặc, Thị Nại, Xuân Đài… [PL 8], [PL 9].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà nước thường xuyên tổ chức thăm dò, đo vẽ cửa biển, đường biển phục vụ cho vận tải và quân đội. Đây là nhiệm vụ thường xuyên của các cửa biển, do quan Trấn thủ, Thủ ngự chỉ huy. Tài liệu cho biết: Tháng Giêng năm 1813, "hạ lệnh cho các trấn thủ dọc biển các địa phương đo những nơi các cửa biển sở tại, sâu nông rộng hẹp thế nào, hàng năm cứ đến mùa xuân mùa đông thì dâng đồ bản lên. Bộ Công sẽ đưa đồ bản cho các đội thuyền vận tải của thủy quân để cho biết đường thủy khó dễ thế nào" [79, 856]. Tháng 2-1815, sai đội Hoàng Sa là bọn Phạm Quang Ảnh ra đảo Hoàng Sa thăm dò đường biển [79, 898]. Tháng 3-1816, "sai các dinh trấn, xem đo đường biển cách nhau xa gần bao nhiêu, vẽ bản đồ dâng lên và sai thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng sa để thăm dò đường thủy." [79, 922]. Tháng 6-1817, thuyền Mã Cao đậu Đà Nẵng, đem địa đồ đảo Hoàng Sa dâng lên. Thưởng cho 20 lạng bạc [79, 950]. Tháng 3-1820, Minh Mạng giao cho quan thủ ngự còn có nhiệm vụ "cắm tiêu" tại những cửa biển để hướng dẫn thuyền qua lại" [80, 55]. Như thế từ đầu việc xác định cương giới đã được ý thức rất sớm và đúng đắn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Muốn bảo vệ vùng biển, không chỉ hiểu biết đường biển, vùng biển mà còn cần một lực lượng thủy binh mạnh, biết chiến đấu hiệu quả trên biển. Gia Long đã rất quan tâm tới thủy binh, hàng năm cứ tháng Giêng lại tiến hành thao diễn phép chèo thuyền. Trong những ngày lễ này, vua mặc áo trận, đeo gươm và ban phát hiệu lệnh [79, 541].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thủy quân và thuyền chiến thời Nguyễn thực sự hùng mạnh trong khu vực, lại được huấn luyện theo binh pháp châu Âu. Từ năm 1789, theo lời khuyên của Bá Đa Lộc, "Nguyễn Ánh ra sức tăng cường thủy binh, trở thành lực lượng thủy binh mạnh nhất chưa từng có ở vùng biển Ấn Độ" [77, 50]. Tài liệu người Anh đến Phú Xuân năm 1819, cho biết nhà Nguyễn có tới 2530 chiến thuyền các loại và "bất cứ lúc nào nhà vua cũng có thể huy động thêm thuyền buôn và thuyền chài đi lại chi chít ngoài ven biển" [77, 24].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời Minh Mạng, thủy quân tiếp tục được chú trọng, dụ năm 1825, cho biết "nay thủy quân ở kinh, hiện đã đặt thêm nhiều, mà các địa phương ven biển cũng đều có thủy quân... Tất cả phải diễn tập cho tinh thạo, phòng khi dùng đến [74, 395], còn về phòng thủ thì “những chỗ xung yếu ở gần bể như cửa bể Thuận An, cửa bể Tư Dung không đâu là không lập pháo đài” [94, 237].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Hội điển&lt;/em&gt; chép về việc diễn tập thuyền bè khá chi tiết. Như đầu thời Nguyễn, đã chuẩn định các cơ đội thủy sư thao diễn thuyền hải đạo bao gồm các cơ: Tả thủy, Tiền thủy, Hậu thủy, Hữu thủy, Tả dực, Hữu dực, Tiền dực; các đội Tả thủy, Hữu thủy, Tiền thủy, Tả bính, Tiền bính, Hậu bính, Bố phường, doanh Hữu thủy; có 12 đội nội thủy, quả là một lực lượng hùng hậu; “lại rước vua ra cửa biển Noãn Hải duyệt quân Diệu thủy thao diễn thuyền chiến ở các cửa biển Tư Hiền, Đại Chiêm" [74, 393-394]. Về sau chuẩn: lấy ngày 1 tháng 5 thao diễn thuyền quân hải đạo [74, 399]. Việc thao diễn của các loại thuyền được Hội điển ghi chép kỹ ở quyển 157, và lưu ý rằng thuyền bọc đồng ở Sơn Trà cũng thao diễn: "mỗi tháng hai lần hoặc một lần ra biển thao diễn, cần được thông thạo" [74, 404]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các vua đầu triều Nguyễn đương thời đều thân hành xem xét các cửa biển, đặc biệt là cửa Thuận An và Đà Nẵng và có những đánh giá rất cao về vị thế chiến lược của các cửa biển này. Như năm 1830, Minh Mạng xem pháo đài Trấn Hải và đánh giá: “thật là thành bằng đồng và hào chứa nước sôi của Kinh sư vậy" [94, 240-241].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Mạng năm thứ 10 (1829), dụ rằng: “bờ cõi nước ta dài theo ven biển, vốn dùng binh thuyền làm nghề sở trường. Triều Lê bỏ việc võ bị ở ven biển, nhà Tây Sơn thao diễn hải quân không được tinh thục, để cho đến nỗi mất nước. Đức hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế nhà ta, khôi phục đất cũ, uy danh dậy khắp bốn phương, phần nhiều nhờ sức thủy quân, nay dẫu ở lúc thừa bình, càng không nên bỏ qua, phải sức cho quân lính thao diễn ngày thêm thuần thục, lại nhân thể tuần tiễu ngoài khơi, cũng là làm một việc mà được cả hai điều tiện lợi. Mới khiến thủy quân tuần tiễu phận bể, từ Quảng Trị trở về phía bắc đi lại thao diễn, lại sai các địa phương ở gần hải phận, xem xét có những kẻ đá nằm ngầm đáy nước, sâu nông rộng hẹp thế nào, vẽ thành đồ bản giao cho thủy quân để biết chỗ nào hiểm trở, chỗ nào bằng phẳng” [93, 293].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi cử Nguyễn Tri Phương vào giữ chức Tuần phủ Quảng Nam, Quảng Ngãi năm 1840, Minh Mạng nói về việc phòng giữ cửa biển là để “bọn giặc dù muốn dòm nom cũng không thể thừa được sơ hở của ta. Đó là kế hoạch lớn, ràng rịt cửa tổ ngay từ lúc chưa mưa, để giữ vững bờ cõi của mình” [94, 275].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vừa thao diễn lại kết hợp tuần tiễu là việc làm có nhiều điều lợi, được Minh Mạng quan tâm. Năm 1831, binh thuyền đi tuần tra mặt biển “đi lại diễn tập, phóng chạy, đều hướng vào chỗ sâu và các đảo lớn, đảo nhỏ, đi tuần quanh khắp hết, cần khiến cho lúc tiến lúc dừng đều được rèn kỹ, đường biển đều biết hết cả" [74, 395].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thiệu Trị nhiều lần xuống Thuận An, có một lần (5-1847) ông xuống Thuận An xem tập thủy trận, hôm sau "đem ra 8 bài thơ vịnh cảnh Thuận An cho các quan xem" [29, 349].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với việc thăm dò ráo riết cũng như sự xuất hiện này càng nhiều các hạm đội phương Tây trên vùng biển Việt Nam, tháng 10-1839, Minh Mạng sai phái thuyền ra ngoại dương "làm việc công". Minh Mạng cho biết mục đích của nó: "Không phải để mua hàng hóa mà để biết rõ núi sông phong tục, nhân vật, xem kỹ la bàn, ghi chép rõ ràng cho biết phương hướng… Ta phái binh thuyền đến nước ngoài là muốn quen đường biển và biết tình thế phong tục các nơi, không phải để cầu lợi" [61, 53].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về hải đảo, các vua Nguyễn tiếp tục có cái nhìn đúng đắn về các quần đảo của Đại Việt. Đó là sự kế thừa cái nhìn hướng biển của cha ông. Học giả Hoàng Xuân Hãn trong khảo cứu "Thử đặt vấn đề Hoàng Sa", phân tính các tài liệu của Lê Quý Đôn (Phủ biên tạp lục), Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí); các bản đồ thời Lê, toàn tập "Thiên Nam lộ đồ" của Maspéro (1741) và “Giao châu chí” cũng của Maspéro để lại, có bức đồ “Quảng Nam xứ” (đời Lê), rồi “Hồng Đức bản đồ” “Thuận Hóa địa đồ nhật trình”, “Quảng Nam địa đồ nhật trình”,...Giáo sư kết luận: "Về các bản đồ trước thời Gia Long cho biết rằng "bãi" Tràng Sa hoặc Cát Vàng được coi là phần quan trọng của đất Việt" [44, 8-11], [PL 3], [PL 4].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với cái nhìn đúng đắn, năm 1816 Gia Long tiếp tục khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa. Sự kiện này cũng được người Anh quan tâm, linh mục Taberd đã viết về Hoàng sa trên hai số báo: "tuy rằng cái thứ quần đảo này không có gì ngoài đá tảng và những cồn lớn nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn lợi, vua Gia Long đã nghĩ tăng lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm 1816 ông đã tới long trọng cắm cờ ông và chính thức giữ giữ chủ quyền các hòn đảo này, mà hình như không một ai tranh giành với ông" [44, 11].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên Thực tế, chỉ một thời gian ngắn quần đảo này lại có giá trị lớn: "những đảo ấy đáng lẽ không giá trị nếu nghề chài ở đó không phồn thịnh và không bù hết mọi nguy nan cho kẻ phiêu lưu. Từ lâu đời, những thuyền phần lớn là từ Hải Nam tới đã hàng năm thăm các bãi nổi này và tiến hành cuộc viễn du ra xa đến tận bờ đảo Borneo... Chính phủ An Nam thấy những món lợi có thể mang lại nếu một ngạch thuế được đặt ra bèn lập những người trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà người ngoài tới đây đều phải trả và để bảo vệ người đánh cá bản quốc" [44, 12].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chaigneau (Nguyễn Văn Thắng) ghi lại việc Gia Long khẳng định chủ quyền Hoàng Sa rằng: “nước Cochinchine mà vua bây giờ lấy hiệu Hoàng đế gồm xứ Cochinchine thật hiệu, xứ Đông kinh, một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có cư dân không xa bờ bể và quần đảo Paracel hợp thành bởi những tiểu đảo, gềnh, đá không dân cư. Chỉ đến năm 1816, mà Hoàng đế bây giờ mới lấy chủ quyền trên quần đảo ấy” [44, 12-13].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Giêng năm 1836, Minh Mạng sai "thủy quân suất đội Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền qua Quảng Ngãi, thẳng tới bãi Hoàng Sa, không nệ hòn cù lao nào, hễ dài ngang, rộng cao, chu vi và 4 phía gần đó có đó mọc cát ngầm hay không, từ cửa biển ra đó đường thủy đi mấy dặm; đá gần bờ biển huyện nào, làng nào; đến đâu khám xét rõ ràng; rồi cắm tiêu làm dấu vẽ thành đồ bản đem lên ngài ngự lãm" [29, 257].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1835 nhà Nguyễn cho lập đền thờ thần Hoàng Sa ở bãi biển tỉnh Quảng Ngãi: "bãi Hoàng Sa ở ngoài biển có một chỗ cây cối rậm tốt, trong cồn có giếng, phía tây nam có cổ miếu có bia khắc bốn chữ "Vạn lý ba bình". Ngài sai cho lập miếu dựng bia, đàng trước xây cái bình phong" [29, 250]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Hoàng Việt địa dư chí&lt;/em&gt; (không đề tên trác giả) cung cấp cho chúng ta biết những tư liệu quý bổ sung về việc khai thác, khẳng định chủ quyền ở Hoàng Sa "Quần đảo Hoàng Sa ở ngoài khơi, vua các đời trước đặt ra đội quân giữ Hoàng Sa gồm 70 người, thường là lấy người xứ An Vĩnh (Quảng Ngãi- huyện Bình Sơn- phủ Tư Nghĩa) để luôn luôn canh giữ. Hàng năm cứ đến tháng 3 nhận lệnh mang theo lương thực trong 6 tháng rồi dùng 5 chiếc thuyền ra khơi, đi trong 3 ngày 3 đêm thì đến đảo, đến nơi vừa canh giữ vừa đánh cá mà ăn. Vật báu ở đó rất nhiều, nên đội quân này vừa làm nhiệm vụ canh giữ, vừa khai thác vật báu” [121, 577].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Châu bản thời Minh Mạng cho biết về việc vãng thám, khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa như sau: “Phúc tấu của bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836), châu phê: "mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4,5 thước, rộng 5 tấc khắc sâu hàng chữ "Năm Bính Thân (Minh Mạng 17), họ tên cai đội thủy quân phụng mệnh đi đo đạc cắm mốc ở Hoàng Sa để lưu dấu". Đã phái thủy quân chánh đội trưởng Phạm Hữu Nhựt, giờ Mão hôm qua đi Ô thuyền rời Thuận An vào Quảng Ngãi quản suất việc vãng thám Hoàng Sa kỳ nầy. Bộ đã cho làm đủ số cột mốc gửi gấp vào Quảng Ngãi. Châu cải (vua sửa lại): "báo gấp cho Quảng Ngãi thực thi ngay, giao cho tên ấy nhận biện". Châu phê: "thuyền nào đi tới đâu cắm mốc tới đó để lưu dấu" [40, 190]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc vãng thám Hoàng Sa rất quan trọng, tuy vất vả nhưng rất được quan tâm, đặc biệt là thời Minh Mạng, nhà nước thường hỗ trợ nhiều cho những người tham gia, dụ ngày ngày 13-7-1837, cho biết “trước có phái thủy sư, giám thành, binh dân hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định đi Hoàng Sa đo đạc, cắm mốc, vẽ đồ, trừ bọn Phan Văn Biện gồm 4 tên cam tội đã có chỉ phạt trượng. Còn binh dân đi theo lặn lội biển cả cực khổ, thưởng mỗi tên binh đinh một tháng lương, dân phu mỗi tên 2 quan tiền [40, 191]. Tấu của Quảng Ngãi ngày 19 tháng 7 năm Minh Mạng 19 (1838): “xin chiếu lệ miễn thuế năm nay cho hai thuyền "Bổn chinh thuyền" đã đưa binh dân đến Hoàng Sa đo đạc giáp vòng từ hạ tuần tháng 3 tới hạ tuần tháng 6, hoàn tất công vụ nay đã trở về” [40, 191].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào thời Thiệu Trị, việc vãng thám vẫn được tiếp tục, nhưng vào gian đoạn sau, từ năm 1845, vì "công vụ bận rộn" nên việc vãng thám luôn bị châu phê “đình hoãn” mỗi khi bộ Công xin ý kiến. Phúc tấu của bộ Công ngày 26 tháng 1 Thiệu Trị thứ 7 (1847): Tháng 6 Thiệu Trị 5 (1845) phụng sắc về việc đình hoãn thám Hoàng Sa. Nay phúc tấu đợi chỉ có nên vãng thám Hoàng Sa kì này hay không ?. Châu phê: "đình hoãn" [40, 191]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tấu của bộ Công ngày 28-12 Thiệu Trị thứ 7 (1847): hàng năm vào mùa xuân, theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà cho thành thục đường đi lối lại. Năm 1845 có chỉ đình hoãn kỳ vãng thám 1846. Vì công vụ bận rộn, năm nay cũng xin được đình hoãn. Châu phê: "đình hoãn" [40, 191].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với những trình bày trên cho thấy các vua Nguyễn rất quan tâm tới vùng biển. Trong con mắt của các vua Nguyễn, vị thế của biển, đảo được đánh giá rất cao, thể hiện cái nhìn hướng biển đúng đắn. Đó là cơ sở để các vua Nguyễn tổ chức và tiến hành các hoạt động bảo vệ vùng biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2.2. TỔ CHỨC, TRANG BỊ VÀ HUẤN LUYỆN QUÂN ĐỘI&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để xây dựng và bảo vệ quốc gia thống nhất, công việc đầu tiên của triều Nguyễn là tập trung xây dựng lực lượng quân đội và củng cố quốc phòng. Minh Mạng đã đánh giá xác đáng: "quân là nanh vuốt của nước" [80, 136], hay, "việc binh có thể 100 năm không dùng đến nhưng không thể một ngày không phòng bị được" [74, 406], chính vì thế việc võ bị rất được quan tâm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quân đội thời Nguyễn có cái nền từ cuộc chiến kéo dài với Tây Sơn. Chính cuộc chiến này mà thủy quân được quan tâm, thuyền chiến được tăng cường và được huấn luyện theo phương pháp phương Tây, do các sĩ quan Pháp trực tiếp huấn luyện. Bởi thế những ai đương thời tiếp xúc với quân đội nhà Nguyễn đều có những đánh giá rất cao về thủy quân nhà Nguyễn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thừa sai Pháp Lelabousse trong thư viết ngày 14-4-1800 cho rằng: "những xưởng đóng tàu và quân cảng [của Nguyễn Ánh] đã khiến người ngoại quốc phải ngưỡng mộ và khắp châu Âu phải ngợi khen nếu được nhìn tận mắt... Vô số chiến thuyền, tàu bè đủ mọi cỡ, đủ mọi hình dáng và sự vững chắc làm cho người ta phải kính nể" [75, 41-42].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1820, đại uý Mỹ White khi đến Sài Gòn, ca ngợi 150 chiến thuyền đẹp nhất còn rất tốt tại xưởng sửa chữa, ông đánh giá: "xưởng này đáng làm cho người Việt Nam tự hào hơn bất cứ cái gì khác trong nước. Xưởng này có thể ví với bất cứ một cơ xưởng nào ở châu Âu... chắc chắn là người Việt Nam đóng thuyền khéo hơn hết và hoàn thành công việc một cách rất chính xác"; ông đoan chắc rằng với những chuyên viên tay thợ đóng tàu giỏi như vậy "phải là một dân tộc đi biển rất cừ khôi" [75, 42].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong cuộc chiến tranh với Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã dựa rất nhiều vào lực lượng thủy quân. Chính những chiến thuyền này đã giúp Nguyễn Ánh vượt biển đánh vào các cảng chiến lược của Tây Sơn như cảng Qui Nhơn (1790, 1797, 1798), cửa biển Nha Trang (1793), trận quyết định Thị Nại (1801)... Do đó hoạt động đóng thuyền đã rất phát triển vào thời kỳ này. Một người Anh đã thấy ở Sài Gòn năm 1800: một hạm đội gồm 1200 chiến thuyền do Nguyễn Ánh chỉ huy... Cho đến khi chấm dứt cuộc chiến với Tây Sơn, lực lượng hàng hải của Nguyễn Ánh gồm gần 100 chiến hạm, 800 pháo hạm, 500 bán pháo hạm [117, 315- 316].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói về ảnh hưởng của tổ chức quân sự phương Tây, cụ thể là Pháp, một tướng Pháp là Lemonnier cho biết Nguyễn Ánh đã từng đọc ở Sài Gòn những binh thư mà Napoléon đã từng đọc cùng thời đó, và "những cuộc hành binh của vua xứ Nam Kỳ (chỉ Nguyễn Ánh) giống nhau một cách kỳ lạ với những cuộc hành binh của đệ nhất cộng hoà Pháp, giống nhau cả về tổ chức, về vũ khí và nhất là về ảnh hưởng của các nhà quân sự Pháp cuối thế kỷ XVIII" [72, 45].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về số lượng thủy quân, tài liệu của Maybon cho biết, năm 1820 quân đội nhà Nguyễn có 160000 người, có thể tăng gấp đôi trong thời chiến, trong đó có khoảng 30000 thủy binh [77, 25]. Trước đó, những năm 1792-1793, tài liệu của Barrow cho biết, hải quân phục vụ trên biển có 26800 người với khoảng 70 thuyền chiến lớn nhỏ gắn đại bác và súng bắn đá [13, 44], [PL 10], [PL 11], [PL 12].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tư liệu của Đỗ Văn Ninh, thời Gia Long có 17000 lính thủy với 3 chiến thuyền kiểu phương Tây, có thuyền lớn bọc đồng tuần dương, có 100 chiến thuyền lớn có máy bắn đá và đại bác, 200 chiến thuyền nhỏ trang bị 16 đến 20 đại bác, 500 chiến thuyền nhỏ hơn có máy bắn đá và 1 đại bác [72, 45].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đại uý Mỹ White mô tả: một cỗ thuyền dài từ 15-30 thước, trên vài con thuyền có đến 16 ổ súng bắn đạn 1,5 ký. Những thuyền khác có 4 hay 6 ụ súng bắn đạn 3 hay 3,5 ký đều là súng đồng rất đẹp mắt" [75, 42]. Còn Crawfurd, một người Anh, vào năm 1822 đánh giá: người Nam kỳ tỏ ra là người thủy thủ giỏi hơn hết ở Viễn Đông" [75, 42]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về tổ chức, trang bị của quân đội nhà Nguyễn, theo tác giả Đỗ Văn Ninh: "chỉ có bộ binh và thủy binh mới được coi là binh chủng đúng với ý nghĩa của nó, nhà Nguyễn đã dồn tất cả tài sức xây dựng cho hai binh chủng này trở thành hai binh chủng mạnh chưa từng thấy trong lịch sử quân sự ở những thời trước, phù hợp với tình hình đất nước ta và khả dĩ có thể phòng thủ có hiệu quả chống những kẻ thu mạnh… Nhà Nguyễn xây dựng một binh chủng thủy quân với nhiều loại thuyền quân lớn nhỏ, có đủ cả chức năng chiến đấu, vận tải; có hải đội, giang đội khác nhau; có thuyền do trung ương đóng và chỉ huy, có thuyền do địa phương đóng để bảo vệ hải phận tỉnh mình. Việc trang bị súng đại bác trên từng loại thuyền cùng với quân lính cũng đều có quy định biên chế rành mạch" [72, 46]. Tác giả viết tiếp: “Nhà Nguyễn đã nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của thủy quân và đã có sự cố gắng lớn trong việc xây dựng binh chủng này. Vào đầu thời Nguyễn, đặc biệt là thời Thiệu Trị và thời Tự Đức, hải quân đã được trang bị nhiều loại tàu thuyền. Mỗi loại tùy cỡ lớn nhỏ mà có chức năng khác nhau, khả dĩ có thể đảm nhiệm tốt nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ và chiến đấu của một binh chủng lớn đương thời” [72, 49].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một trong những trang bị quan trọng của việc tổ chức lực lượng là phát triển tàu thuyền. Trong thư gửi về Paris đề ngày 24-4-1800, Thừa sai Lelabousse cho biết, Nguyễn Ánh đã thành công trong việc dùng thợ bản xứ mà chế tạo được những tàu chiến kiểu châu Âu. “Ông bắt đầu bằng việc cho tháo rời từng bộ phận của một chiếc tàu cũ vừa mua được, rồi theo đó mà chế tạo một tàu đẹp hơn. Kết quả đầu tiên này khích lệ ông làm thêm một chiếc tàu mới và cũng thành công. Sau đó Nguyễn Ánh lại cho làm thêm hai tàu nữa. Việc chế tạo 4 chiếc tàu này được tiến hành rất nhanh chóng, mỗi chiếc chỉ mất 3 tháng, có khi ít hơn, hình dáng khá đẹp. Mỗi tàu trang bị 26 hoặc 36 đại bác với 300 thủy thủ” [77, 24].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thông tin về việc Nguyễn Ánh chỉ đạo chế tạo tàu chiến kiểu phương Tây hẳn nhiên được quân tâm và nó rất nổi tiếng vào lúc đó. Thực ra trong hồi ký của thuyền trưởng Barissy, một sỹ quan hải quân Pháp, nhiều năm chỉ huy chiến hạm phục vụ “vua Đàng Trong” (Nguyễn Ánh) mà John Barrow khai thác, thì từ cuối thế kỷ XVIII, Nguyễn Ánh đã cho tiến hành đóng tàu chiến. Trong vòng 2 năm (1797-1798), “vua đã cho đóng ít nhất 300 tàu lớn có đại bác hoặc thuyền chèo, 5 tàu cướp (luggers) và một chiến hạm theo kiểu tàu châu Âu. Vua cho đưa vào một hệ thống các chiến thuật hải quân, và có những sĩ quan hải quân được huấn luyện sử dụng các tín hiệu. Một trong những người quý tộc Anh mà tôi đã nêu là ở Sài Gòn vào năm 1800, đã nhìn thấy một hạm đội gồm có 1200 tàu buồm, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của thái tử, kéo neo lên và hạ xuống sông một cách rất trật tự, thành ba phân hạm đội riêng rẽ, hình thành các tuyến theo thứ tự chặt chẽ và rõ ràng” [13, 37].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau này nhà Nguyễn vẫn thường mua tàu về rồi theo mô thức đó mà đóng. Minh Mạng mua được tàu hơi nước, cho theo kiểu dáng để làm cái... lớn hơn. Bản tấu của bộ Công ngày 20-7 (1838), cho biết: "nay mới mua về một chiếc tàu chạy bằng hơi, chạy rất mau, không không kể gió nước ngược xuôi, không cần người chèo đều đi được cả, mà chạy rất mau.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phụng sắc: sẽ y thức làm cái tàu cho lớn, đem bộ máy ấy lắp vào. Phải giữ gìn máy cẩn thận đừng để cho bụi vào bẩn, rỉ. Vậy xin đặt các viên, binh coi ngó và tháo ra để trên xưởng kẻo mưa lụt sắp đến hư hỏng. Nếu người chuyên trách việc ấy bất cẩn sẽ bị trị tội nặng" [22, tập 72, 56]. Điều đó cho thấy mong muốn làm cái "lớn hơn" trên một bộ máy cũ, khát khao cải tiến nhưng Minh Mạng đã không tính toán đến việc vận hành sẽ không như ý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tàu chiến thường được trang bị mới nhất, hàng năm thao diễn ở cửa biển Thuận An và có bắn súng lớn với những thuyền máy và thuyền nhiều dây như: Bình Dương, Định Dương, Định Hải, Tĩnh Hải, Thanh Hải... trong đó tàu Điện Phi do Đào Trí Phú mua về đứng đầu về kỹ thuật. Về các loại thuyền và chức năng của nó được Đỗ Văn Ninh miêu tả khá kỹ như thuyền bọc đồng, thuyền hạng lớn, thuyền tuần dương... “mỗi loại tùy cỡ lớn nhỏ mà có chức năng khác nhau, khả dĩ có thể đảm nhiệm tốt nhiệm vụ phòng thủ, bảo bệ và chiến đấu của một binh chủng lớn đương thời” [72, 49].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về việc đóng tàu chiến kiểu phương Tây thời Minh Mạng, tác giả Nguyễn Văn Đăng đã có bài khảo cứu khá chi tiết [72, 58-63]. Tác giả cho rằng việc đóng tàu thuyền kiểu phương Tây thời Minh Mạng chủ yếu có hai loại là thuyền bọc đồng và tàu máy hơi nước. Việc đóng tàu thành công đã mở ra khả năng đóng đồng loạt, tuy nhiên các vua tiếp theo là Thiệu Trị, Tự Đức “không đủ kiên trì và quyết tâm theo đuổi việc tổ chức, triển khai đóng thuyền máy trên qui mô lớn. Như vậy, dù Minh Mạng có công quan tâm tiếp thu những yếu tố kỹ thuật đóng thuyền phương Tây nhưng các vị vua kế tục ông đã không phát huy thu được kinh nghiệm đó” [34, 61]. Trên thực tế việc đóng tàu vẫn được tiến hành tuy không nhiều, như Châu bản ngày 26-9-1851, cho biết: “các quan chức phụ trách thủy quân trình về việc cho chạy thử một loại thuyền vận chuyển đường biển kiểu mới, tốc độ nhanh hơn các loại cũ [120, 45].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các tác giả &lt;em&gt;Quân thủy&lt;/em&gt; khi nghiên cứu về tàu chiến phương Tây, lại có đánh giá rất khác: “Từ thế kỷ XVIII, đặc biệt là thế kỷ XIX, một số thuyền chiến nhiều tầng pháo kiểu châu Âu lác đác xuất hiện trong hải quân nhà Nguyễn (Việt Nam) và nhà Thanh (Trung Quốc)... song đó chỉ là những thuyền tương đương với thuyền loại nhỏ của châu Âu” [129, 132]. Về việc huấn luyện theo phương pháp mới với sự có mặt của các sĩ quan phương Tây cũng vậy, nó nằm trong đặc điểm chung của các nước phương Đông, “vẫn rất khác so với phương Tây đương thời, mặc dầu từ thế kỉ XVIII, nhiều nước phương Đông đã mua tàu, đóng tàu, thậm chí nhờ các thuyền trưởng, sĩ quan phương Tây giúp trong cả tổ chức, biên chế” [129, 29]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do đặc điểm cần triển khai nhanh, phối hợp chiến đấu khi cần thiết nên thuyền công hay thuyền tuần dương thời Nguyễn đều mang nặng yếu tố quân thuyền. Một người Anh, ký tên H.P, đến Phú Xuân những năm 1819, cho biết nhà Nguyễn có tới 2530 chiến thuyền các loại và có thể huy động thêm thuyền chài và thuyền buôn đi lại trên biển [77, 24]. Thuyền Thủy quân cũng có khi dùng để chở vật liệu như tháng 3-1810, lấy hơn 100 chiếc binh thuyền của thủy quân để chở sản vật ở Thanh Nghệ và Bắc thành [79, 784]. Đấy chỉ là một số dẫn chứng, có thể tìm được rất nhiều thông tin tương tự, như việc đóng thuyền, chẳng hạn: “Tháng 6-1804, đóng 20 thuyền hải đạo, sai Nghệ An chọn 200 người thợ đóng thuyền sung làm công việc ấy [79, 603]. Tháng 3-1805 lại tiếp tục đóng thuyền Hải đạo, "sai các đội thự rừng Quảng Trị đi lấy gỗ để nộp, thưởng 1000 quan tiền, 1000 phương gạo. Tháng 2-1807, sai đóng thêm hơn trăm chiếc thuyền chiến sai. Vua từng nói với bọn Nguyễn Văn Nhân và Nguyễn Đức Xuyên rằng: "trong nước tuy đã yên ổn nhưng không thể quên được việc chiến tranh. Quân ta rất giỏi thủy chiến mà số thuyền ghe hiện không có mấy, nên đóng sẵn trước để phòng khi dùng đến [79, 690].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về tổ chức lực lượng hay biên chế, ngoài đội quân chính qui, tháng Giêng năm Gia Long thứ 9 (1810), “sai bốn dinh trực lệ và trấn Quảng Ngãi kén dân phụ giữ các cửa biển, người nào khoẻ mạnh, giỏi lội nước, cứ 5 đinh lấy 1 người, cho lệ vào thủy quân, do Tống Phước Lương quản lãnh [79, 772]. Chúng ta cần lưu ý về cách thức và đối tượng tuyển chọn. Tháng 3-1811, đặt thuyền Toàn Bính ở Bình Định, sai trấn thần mộ dân ngoại tịch sung vào [79, 811]. Đây rõ ràng là kiểu tổ chức coi trọng quân địa phương. Các cửa biển nhỏ, ít quan trọng thường vẫn có thủ ngự để coi giữ. Nhưng về sau, xét thấy sự không cấp thiết mà bãi bỏ hoặc cho sáp nhập vào sự quản lý của tấn thủ lớn hơn, gần đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như vậy, với sự đánh giá đúng, thức thời về việc cần phải xây dựng một lực lượng phòng thủ mạnh, nghiêng về thủy- hải quân. Nhà Nguyễn đã chú trọng tổ chức, xây dựng lực lượng phòng thủ vùng biển mạnh, ngoài lực lượng quân đội thuộc binh chủng thủy quân được biên chế còn có quân địa phương. Ngoài nhiều kiểu loại thuyền chiến mới, đa dụng còn có thuyền của các địa phương, thuyền đánh cá. Quân đội cũng được trang bị nhiều vũ khí và sáng tạo nhiều loại vũ khí mới phục vụ phòng thủ vùng biển, như ngày 24-10-1857, bộ Binh báo cáo về việc chế tạo “pháo xa” kiểu Tây phương để trang bị cho các thuyền tuần tiễu ngoài biển. [120, 53]. Ngày 8-11-1857, bộ Binh báo cáo về việc chế thử thành công và bắt đầu đưa vào sử dụng một số vũ khí mới: Hỏa chiến chúc, Hỏa đầu chúc, Phi hoa, Chấn thuyền lôi [120, 53]. Với những dẫn liệu trên cho thấy tổ chức, trang bị lực lượng của nhà Nguyễn hẳn có tác dụng không nhỏ đối với việc phòng thủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2.3. THÔNG TIN LIÊN LẠC&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để đảm bảo nắm bắt nhanh chóng tình hình trên biển, nhà Nguyễn cho xây dựng một hệ thống thành, đồn, pháo đài dọc khắp các cửa biển và những nơi quan yếu. Bên cạnh đó, hệ thống thông tin cũng được thiết lập để thông tin từ các thành, đồn biển được chuyển về Kinh nhanh nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bước đầu phương tiện thông tin liên lạc ở các cửa biển được sử dụng bởi các "đài Hỏa Phong", tuy nhiên đến năm Minh Mạng thứ 17 (1836), thấy không tiện lợi bằng việc chạy ngựa trạm, nên vua cho triệt các đài này và giao việc phòng giữ cho các địa phương tích cực đi tuần, gặp giặc thì cấp báo. Tài liệu cho biết: “trước đây ở cửa bể Tư Dung và cửa bể Chu Mãi thuộc tỉnh Thừa Thiên, cửa bể Đà Nẵng thuộc tỉnh Quảng Nam đều có đài Hỏa Phong (một đài xây cao khi có giặc thì đốt lửa lên để làm hiệu). Nay vua ngự đến cửa bể Tư Dung dụ bảo rằng: “những bến ở vùng bể nếu gặp nhiều chỗ tuần phòng gặp việc khẩn cấp thời cho ngựa trạm chạy đi nhanh như bay khó gì không đến ngay được. Như thế với đài Hỏa Phong lại không hơn hay sao?”. Mới sai triệt hết đài hỏa phong mà sai Binh bộ bàn định chương trình 6 cửa bể từ tỉnh Quảng Nam đến tỉnh Quảng Trị đều do quan địa phương sai binh thuyền đi lại tuần tiễu chỗ hải phận của tỉnh mình, có tin gì thời báo ngay để nghiêm việc phòng giữ ngoài bể”[94, 259].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm Minh Mạng 18 (1837), vua dụ bảo bộ Binh và bộ Công rằng: “cửa biển Thuận An là nơi thiết yếu ở vùng bể, ở ngay kế nách Kinh đô. Trước đây thuyền bè ra vào phải căn cứ vào văn thư của đồn canh tại cửa bể ấy báo lên thời không phải chậm trễ, nay thuận cho mé trước kinh thành theo bờ biển đến thành Trấn Hải phải tùy chỗ mà đặt “vọng lâu” (lầu trông xa) may cho cờ hiệu để thứ đệ truyền báo nơi nọ đến nơi kia, mỗi lầu phải đặt chức Suất đội, chức Thơ lại và binh lính đều ở trên lầu trông đi xa, nếu thấy lầu ở bên dưới báo cờ hiệu sắc gì thời trên lầu kéo ngay cờ hiệu cũng theo màu sắc ấy, để tin tức được nhanh chóng, vậy Binh bộ và Công bộ phải bàn điều lệ để tâu lên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vua lại dụ rằng: “phép lấy cờ hiệu để báo hiệu, đức Thế tổ Cao Hoàng đế là Hoàng khảo của trẫm đã tính làm nhưng chưa kịp thi hành, nay trẫm làm theo chí của tiên đế, dù ngựa chạy theo đường trạm và văn thư gửi theo đường bưu cục ở đường thủy, cũng không nhanh chóng được như thế”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai bộ bàn rồi tâu lên, Minh Mạng chuẩn "cho lấy ngay lầu ở cửa chính đông và phía trái kinh thành làm một vọng lâu, và những nơi Đông Trí, Phổ Trì, Thạch Căn, Phù An, Dương Lỗ, Thuận Lan, Tràng Châu, Cáp Châu cùng gần nơi phía tả thành Trấn Hải, tất cả 10 nơi chiếu thứ tự gọi là đệ nhất vọng lâu cho đến đệ thập, kỳ lâu (lầu cắm cờ) cắt lính để trông xa mà cấp cho cờ hiệu, thẻ bài để ghi nhận, nếu cứ chuyển cáo về chậm hay nhầm, thời tùy việc nặng nhẹ mà trị tội. Về sau lấy cớ việc báo tin bằng lầu cắm cờ không bằng báo tin bằng cửa bể truyền đi lại nhanh chóng hơn, nên lại bỏ các lầu cắm cờ” [94, 265].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như thế, việc thông tin gặp những khó khăn nhất định so với nhu cầu phải nhanh chóng và chính xác của công việc, việc cung cấp tin tức từ cửa biển là quan trọng và cần thiết nên rất được được quan tâm. Vua Minh Mạng vừa cho thay các đài hỏa phong bằng chạy ngựa trạm và bưu cục thì năm sau lại thay bằng lầu cắm cờ nhưng ngay trong năm ấy hiệu quả không cao nên lại loại bỏ. Trên một trục từ Thuận An về Huế phải làm tới 10 lầu cắm cờ với số người túc trực không nhỏ mà hiệu quả không cao thì việc triệt tiêu nhanh chóng cũng là điều dễ hiểu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sách &lt;em&gt;Hội điển&lt;/em&gt;, phần “Binh chế” chép rõ về "hiệu cờ, hiệu súng, hiệu đèn ở đài trên đồn biển", như năm Gia Long thứ 12 (1813) chuẩn định: đài Trấn Hải ở cửa biển Thuận An hễ trông thấy lửa cháy ở đài đốt lửa trên núi Thái Lĩnh thuộc cửa biển Tư Hiền thì viên Án thủ sai một mặt kéo cờ hiệu, một mặt phái 2 người nội hầu tiểu sai về tâu. Cho ghi điều này làm lệ. Năm Gia Long thứ 18 (1819), lại chuẩn định: từ nay về sau khi thuyền công sắp sửa vào cửa biển Thuận An, nếu gặp sóng gió không tiện vào bến, thì đài Trấn Hải dự trước kéo cờ đỏ và bắn hai phát súng, khiến cho thuyền ấy nghe biết. Tùy tiện đi thẳng [74, 587].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc treo cờ là thể diện quốc gia, có khi cũng chỉ là "cho oai" với người Tây như năm 1823, Minh Mạng ban chỉ: đài Điện Hải, pháo đài Định Hải dinh Quảng Nam là nơi bể biển, cần phải nghiêm túc. Vậy cho đem 3 lá cờ vàng cấp phát cho viên ở đài ấy nhận lĩnh. Hễ đến các tiết Thánh thọ, Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương và mùng một, ngày rằm đều theo lệ treo cờ. Trừ khi thuyền buôn qua lại buôn bán thì không kể. Phàm khi trông thấy tàu thuyền của các thành dinh trấn đi vận tải của công, cùng là tàu thuyền của Tây dương hoặc đi qua ngoài biển, hoặc đậu ở bến sông đều nên treo cờ để trông vào cho oai. Điều này cho làm lệ vĩnh viễn [74, 587].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những thuyền công ra vào cửa biển thì lệ "treo cờ, bắn súng" chào mừng rất cụ thể, tùy mức độ mà bắn chừng mực, có khi vừa treo cờ vừa bắn súng có khi chỉ treo cờ không thôi. Đối với tàu thuyền nước ngoài, năm Minh Mạng thứ 11 (1830) qui định: "phàm tàu thuyền nước ngoài tới đậu ngoài cửa biển, vào các ngày thả neo và nhổ neo, thuyền ấy nếu có treo cờ, thì không kể là hiệu cờ gì; nếu có bắn súng thì không kể là tiếng súng nhiều hay ít, trên đài chỉ bắn đáp lại 3 tiếng súng thôi, không cần phải treo cờ đỏ. Về viên quan coi giữ đài Trấn Hải, từ nay, phàm trên đài có những khoản nên treo cờ bắn súng, thì viên quan coi giữ ấy phải lưu tâm trông nom. Nếu vẫn đặt mình ra ngoài công việc, đến nỗi khi gặp việc có sự lầm lẫn, thì ngoài những biền chuyên làm việc ấy đều phải trị tội thích đáng không kể, mà viên quan coi giữ cũng bị xử tội" [74, 589].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc qui định bắn súng cũng có sự phân biệt, thay đổi. Đến năm Minh Mạng thứ 13 (1832) ban chỉ: "đài Điện Hải, An Hải ở cửa biển Đà Nẵng Tỉnh Quảng Nam hiện nay phàm thuyền lớn đến hải phận cửa biển bắn 3 phát súng. Nếu khi có nhiều chiếc thuyền lớn cùng vào cửa biển, tiếng súng dù nhiều, 2 đài ấy cũng chỉ đều bắn 3 phát súng mà thôi. Điều này ghi làm mệnh lệnh mãi mãi" [74, 589].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với một đoàn thuyền, năm Minh Mạng thứ 15 (1834) qui định chỉ bắn súng khi chiếc đầu tiên và chiếc cuối cùng vào cửa biển. Phân biệt việc bắn súng lớn hay súng nhỏ tùy vào hạng thuyền như khi vào cửa Thuận An thì "nhân viên phòng thủ cửa biển cần phải xem xét kỹ lưỡng" [74, 590]. Tuy vậy, trên thực tế có khi quan coi cửía biển vẫn nhầm lẫn, như năm 1835, "thuyền buôn Tây dương đến cửa biển Đà Nẵng, họ bắn súng chào mừng chỉ là súng trường thế mà hai thành An Hải và Điện Hải lại không biết cân nhắc nên chăng, lại dùng tiếng súng áo đỏ bắn đáp lại, đến nỗi tiếng súng lớn nhỏ không ngang nhau, thực là không đúng. Vậy viên chuyên quản hai thành ấy cho phạt một tháng lương, từ nay về sau các thuyền nước ngoài tới hải phận ấy, nếu không bắn súng lớn thì chỉ dùng súng điểu thương bắn để chào mừng, cũng không cần trách lắm, chỉ là ở trên thành không cần bắn súng đáp lại [74, 590].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đối với thuyền công nước ngoài tới cửa Đà Nẵng, năm 1835, Minh Mạng qui định: nếu treo cờ bắn súng thì trên thành chỉ bắn 3 tiếng. Thuyền buôn có bắn 7 hay 9 tiếng thì cũng chỉ bắn 3 tiếng, nếu họ bắn 3 tiếng thì trên thành không cần bắn đáp trả [74, 591].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều đặc biệt là chưa phân biệt ban ngày, ban đêm nên có khi không tiện cho việc bắn súng. Cho tới sự cố năm 1839, ở cửa biển Đà Nẵng bắn súng vào ban đêm làm "tiểu dân không biết gì, hoặc có kẻ kinh ngạc", từ đấy qui định không bắn súng vào ban đêm. Nhưng, trên các đài biển: duy ban đêm lệ trước chưa có ký hiệu, e ban đêm lái thuyền không ghi nhận vào đâu được, hoặc đến nỗi lầm lẫn. Vậy cho bộ sai thợ lĩnh vật hạng làm một cái đèn lồng lớn, chu vi cốt được trên dưới 7, 8 thước, trong bọc giấy trắng, ngoài bọc vải the, khi thắp đèn lên trông xa như một cái quàng đỏ lớn... trừ đêm nào mưa, gió, các thuyền vào cửa biển không tiện, thì không cần thắp đèn treo lên, còn những đêm trời tạnh thì đèn lồng ấy treo lên cột cờ, thắp đèn suốt đêm, khiến cho các thuyền ngoài biển được nhận làm chuẩn đích của cửa biển [74, 595].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhằm phục vụ cho việc nhận diện các tàu phương Tây được chính xác, năm 1836 cho phát ra bản vẽ hiệu cờ các nước ngoài chia cho cửa biển Thuận An, cửa biển Đà Nẵng và cửa ải Hải Vân mỗi nơi đều 1 bức. Do viên quan ở cửa biển và cửa ải nhận giữ. Nếu có thuyền nước ngoài đến đậu ở cửa biển, thì lập tức đối chiếu hiệu cờ ở trong bản vẽ, xem là hiệu cờ của nước nào, rồi kể rõ vào trong tờ tâu, lại vẽ riêng hình cờ cử thuyền ấy vào một miếng giấy nộp lên bộ đề "phòng khi chiếu nghiệm" [74, 591].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bên cạnh đó nhà Nguyễn đã áp dụng phổ biến kính thiên lý và đánh giá rất cao hiệu qủa của nó. &lt;em&gt;Hội điển&lt;/em&gt; cho biết nhiều thông tin về kính thiên lý được sử dụng rộng rãi để quan sát phục vụ trong quân đội.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hầu hết các tỉnh được cấp kính thiên lý. Các đồn biển, thuyền tuần biển, thuyền công đi ra nước ngoài, đều được cấp kính và cử người thông thạo đi theo phục vụ đắc lực cho việc nhìn ngắm rõ ràng. Bởi "vùng biển mênh mông, chỉ có kính thiên lý có thể trông xa được, vậy cho trích ra 3 chiếc, giao cho một tên thị vệ, do đường trạm chạy từ Nghệ An trở ra bắc, chuyển tới các thuyền binh ấy chia cấp, để phòng khi nhìn xem tình hình giặc biển, khi việc xong lại đem về nộp" [74, 425-426].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bắt đầu từ việc nhìn sai của cửa Thuận An năm 1825, thuyền công trở về cửa Thuận An lại nhìn nhầm, báo cáo là "có thuyền Tây dương tới đậu, trên treo cờ đỏ", Minh Mạng lấy làm tức giận, "thật là càn rỡ qúa lắm", ông ban chỉ: từ nay về sau cần đem kính thiên lý nhìn rõ, tùy việc báo về kỹ lưỡng, nếu còn sai lầm, ắt theo mức nặng mà trị tội, nếu quan hệ đến quân cơ, đến nỗi bị sai lầm, thì lập tức chiếu theo quân pháp mà nghiêm trị, dứt khoát khó khoan dung [74, 596].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếp đó là liên tục các chỉ dụ về việc sử dụng kính thiên lý ở các nơi quan yếu như Hải Vân quan, Đà Nẵng, Thuận An:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Cửa ải Hải Vân có đặt đồn phòng thủ là để trông các thuyền ở ngoài biển. Từ nay về sau, người phái đến thay ban, cho do viên cai quản nhận lấy người nhìn ngắm kính thiên lý thông thạo đi thay ban phòng thủ [74, 597].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Cửa biển Đà Nẵng ở tỉnh trực phía nam, đường biển mông mênh, sương mù mờ mịt, về màu thuyền, kiểu buồm đối với người nhìn ngắm, cũng có khi không khỏi sức mắt có thể thấy được, đã có ban cấp 1 ống kính thiên lý. Từ nay, phàm biền binh ở các vệ Cảnh tất, Hộ vệ, Kim thương, Thượng tứ theo lệ phái đến ở lâu dài ở cửa ải Hải Vân. Mỗi khi đến kỳ thay đổi, thì viên cai quản ắt phải lựa chọn người nhìn ngắm kính thiên lý thông thạo, cam kết với bộ phái đi, và định mỗi tháng 2 lần đem mặt kính hiện giữ lau chùi đúng phương pháp cốt cho được luôn luôn sáng sủa, gặp khi nhìn ngắm, thăm dò, phải lưu tâm nhận định, mười phần chính xác, cho khỏi đến khi tâu báo mơ hồ [74, 597].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Cửa biển Thuận An là nơi quan trọng của xứ Kinh kỳ. Viên quan giữ thành và giữ cửa biển, cần phải nhìn ra cửa biển thông thạo, để biết rõ tình trạng. Vậy cấp thêm cho sở ấy một ống kính thiên lý. Phái ra một người Thị vệ hoặc Kim thương, cảnh tất, hộ vệ, mà ngắm nhìn thông thạo, đến đấy dạy tập các viên quản vệ, suất đội, tấn thủ, thủ ngự, đội trưởng ở thành và cửa biển ấy [74, 598].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các hiệu cờ được qui định rất cụ thể, năm 1837 qui định: "Thuyền binh của các nước Tây dương, thả neo ở ngoài biển, thì dùng cờ hiệu "Đinh tam", khi thuyền ấy chạy đi thì dùng cờ hiệu "Mậu cửu". Thuyền nước ngoài gặp nạn gió thả neo ở ngoài biển thì dùng cờ hiệu "Đinh ngũ", khi thuyền ấy chạy đi thì thêm cờ hiệu "Mậu cửu"; "thấy kiểu thuyền giặc nước Thanh lãng vãng qua lại ở ngoài biển thì dùng cờ hiệu "Mậu tứ", nếu thấy thuyền ấy đã chạy đi thì thêm cờ hiệu "Mậu cửu". Thấy kiểu thuyền giặc phương Tây lãng vãng qua lại ở ngoài biển thì dùng cờ hiệu "Mậu ngũ", khi thuyền ấy chạy đi thì thêm cờ hiệu "Mậu cửu"... thấy rất nhiều thuyền binh, hoặc có chiếc phất cờ, đánh trống, bắn súng, như có tình hình hung ác, thì dùng cờ hiệu "Mậu thất"... thấy có nhiều thuyền binh kiểu lạ, không phải là thuyền công, thuyền vận tải, thuyền buôn của triều đình ta thì dùng cờ hiệu "Mậu bát"... thuyền ở ngoài xa, chưa phân biệt được thì dùng cờ hiệu "Mậu cửu"...[74, 594].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chỉ riêng cửa biển Đà Nẵng là nơi thường có tàu phương Tây qua lại nhiều nên năm 1840 nghị chuẩn: "pháo đài Phòng Hải ở cửa biển Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam. Phàm bất kỳ trông thấy thuyền nhiều dây ở ngoài biển, còn chưa phân biệt được rõ ràng là của ta hay của nước ngoài, nếu thấy 1,2 chiếc thì treo cờ đỏ, 3,4 chiếc thì trở lên thì treo cờ gấm trắng đỏ. Đến khi nhận biết là thuyền công nước ta thì lại treo cờ vàng, nếu là thuyền nước ngoài thì lại treo cờ gấm trắng lam" [74, 595-596].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên việc dùng cờ hiệu không phải bao giờ cũng có hiệu quả, như bản dụ năm 1838: cửa biển Thuận An là nơi bờ biển then chốt xứ Kinh kỳ, từ trước tới nay công việc thông báo, lệ do các viên tấn thủ, thủ ngự báo bằng giấy tờ. Trước đây dùng thuyền và người truyền đưa, hoặc khi hơi có chậm trễ, đã chuẩn y lời bộ Binh bàn, đặt ra các ở lầu cờ (đặt năm 1837) để truyền báo cho nhau là muốn được nhanh chóng. Nhưng hiệu cờ do các lần ấy báo ra, về sự nhanh chóng so với cửa biển Thuận An báo bằng giấy tờ cũng không hơn là mấy, mà số biền binh dùng để coi giữ lại tốn rất nhiều người. Hơn nữa nhìn xem màu cờ thường thường sai lầm, đến nỗi phải ghi nhận trở đi trở lại, rất là phiền phức, lại không bằng cửa biển Thuận An một mặt chạy báo còn hơn. Vậy các sở "lầu cờ" đã đặt ra, cho lập tức đình bãi. Phàm tất cả các công việc cần phải thông báo ở cửa biển Thuận An, cho do viên quan ở cửa biển ấy chiếu theo lệ cũ mà làm" [74, 595-596].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một hoạt động thường xuyên khác là tuần tra trên biển, chủ yếu tuần tiễu giặc biển. Khi tuần tra, để phân biệt tàu công hay bọn cướp biển, Minh Mạng năm thứ 9 (1828) qui định: "nếu trong biển thấy có tàu thuyền từ xa, họ lập tức đem cờ vàng treo lên, thuyền lớn thì treo ở cột cờ đuôi thuyền, thuyền nhỏ thì treo ở trên cây cột buồm để nhận rõ quốc hiệu của thủy quân. Nếu không có cờ, tức là thuyền của giặc [74, 525-526]. Khi phát hiện thuyền giặc, "ban ngày thì bắn 3 phát đại bác, ban đêm cũng bắn 3 phát đại bác và bắn 5 chiếc pháo thăng thiên làm hiệu. Phàm xa gần nghe thấy thì lập tức khẩn cấp tiếp viện. Nếu thuyền giặc nhân gió bỏ chạy thì lấy thuyền nhanh nhẹ mà đuổi theo [74, 432].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cần lưu ý thêm rằng hệ thống các đồn biển ngoài nhiệm vụ đóng giữ cửa biển còn có nhiệm vụ thông tin bằng việc treo cờ hay chạy trạm. Bên cạnh đó là hệ thống thuyền buôn và thuyền đánh cá của các địa phương cũng tham gia tích cực vào việc thông báo tin tức trên biển. Chính họ đóng góp một phần không nhỏ trong việc bảo vệ, bởi "bất cứ lúc nào nhà vua cũng có thể huy động thêm thuyền buôn và thuyền chài đi lại chi chít ngoài ven biển" [77, 24]. Chính nó là cơ sở để những thông tin trên biển được chuyển về nhanh chóng chứ không phải chỉ bằng con đường chính qui.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2.4. XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÒNG THỦ VÙNG BIỂN&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2.4.1. Hệ thống phòng thủ ở cửa biển Đà Nẵng&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cảng biển Đà Nẵng có vị trí rất đặc biệt cả về kinh tế, quân sự. Chính vì thế nó lọt vào tầm ngắm của các nước phương Tây từ rất sớm, thể hiện trong các báo cáo đầy âm mưu.Trong văn thư gửi lên Hoàng đế Pháp, Linh mục Huc trình bày các mối lợi mà việc chiếm Việt Nam có thể mang lại cho Pháp. Lợi về chiến lược: "Đà Nẵng nằm trong tay người Pháp sẽ là một hải cảng không ai tấn công nổi và là cứ điểm quan trọng nhất để chế ngự Bắc Á" [110, 50]. Tóm lại, "vì rất quan trọng cho Pháp phải có một cơ sở giàu và mạnh ở Viễn Đông, nên dứt khoát phải chiếm "Cochinchine" và phải làm gấp chừng nào hay chừng nấy vì Anh cũng đã "dòm ngó Đà Nẵng" [110, 51].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có nhiều yếu tố để ca tụng về giá trị đặc biệt của hải cảng này, nhưng có thể nói gọn về những yếu tố tạo nên vị trí quan trọng của Đà Nẵng là: tránh được bão tố, có thể vào nội địa qua sông Hàn. Là tâm điểm của các chuyến hàng hải, nghỉ ngơi khi qua đại dương. Là vị trí chiến lược, "yết hầu Thuận Quảng".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhà Nguyễn nhận ra điều đó, bởi Đà Nẵng không qúa gần và không qúa xa; vừa đủ để liên lạc với Kinh đô và Kinh đô cũng dễ kiểm soát hoạt động tàu thuyền cũng như ngoại giao không chính thức đối với phương Tây. Trên hết, Đà Nẵng vừa có vị trí quan trọng trong tự bản thân nó và gần Kinh đô nên sự quan tâm bố phòng của nhà nước được ưu tiên với mức độ đặc biệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các công trình nghiên cứu về phòng thủ ở Đà Nẵng dưới thời Nguyễn đã rất chú trọng về tính phòng thủ quân sự của khu vực này, và lịch sử cũng đã ghi lại những hệ quả tất yếu của nó [28], [65], [71], [97], [116]. Bởi vậy, chúng tôi không nói nhiều đến qúa trình xây dựng hệ thống này mà chủ yếu là qúa trình vận hành hay sự thể hiện chức năng phòng thủ của nó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đà Nẵng là cửa biển quan trọng, nhà Nguyễn rất quan tâm đến việc củng cố phòng thủ (thời Minh Mạng cho đúc vào Dụ Đỉnh [PL 11]). Đó là một qúa trình xây dựng lâu dài từ Gia Long đến Tự Đức với nhiều sức người sức của, thường xuyên tăng cường quân đội và vũ khí bố phòng mới tạo nên hệ thống phòng thủ “liên hoàn” ở cửa biển này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bắt đầu từ tháng 2 năm 1813, vua Gia Long cho xây đài Điện Hải và đồn An Hải ở cửa Đà Nẵng, giao cho Nguyễn Văn Thành trông coi, lưu 500 quân phòng giữ [29, 114]. Đến các đời vua sau, việc xây dựng, sửa chữa, di chuyển và xây mới vẫn được tiếp tục.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đánh giá cao cửa biển Đà Nẵng, năm 1829, vua Minh Mạng bảo bộ Binh: “pháo đài Trấn Hải ở Kinh sư, pháo đài Điện Hải ở tỉnh Quảng Nam đều là chỗ xung yếu, nên dù lúc vô sự, việc canh phòng cũng không thể bỏ qua. Bộ ấy nên truyền bảo quan binh trú phòng ở hai pháo đài ấy hết thảy súng đạn, khí giới, quân nhu lúc nào cũng dự bị đầy đủ để phòng lúc bất ngờ” [94, 237]. Năm sau, Minh Mạng lại cho xây tiếp pháo đài An Hải, “sai quan Thống chế là Đoàn Văn Tường đem lính ở Bắc thành và tỉnh Thanh, tỉnh Nghệ cùng Kinh sư cả thảy hơn 3000 người để làm công tác kể trên. Khi xây đắp phát tiền gạo và muối ở kho tỉnh Quảng Nam đã dự sẵn” [94, 240]. Năm 1840 Minh Mạng cho trang bị thêm “hai cỗ súng đồng "xung tiêu" (bắn cao đến trời xanh), 100 quả chấn địa lôi, đem đến pháo đài Phòng Hải ở cửa bể Đà Nẵng tỉnh Quảng Nam" [94, 276].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến cuối thời Minh Mạng, khi cử Nguyễn Tri Phương vào giữ chức tuần phủ Quảng Nam, Quảng Ngãi, vua dụ: "Cửa bể Đà Nẵng là chỗ xung yếu ở vùng bể, vì thuyền bè đi lại là phải qua cửa bể ấy. Ngươi có chức trách về địa phương ấy nên thân hành xem kỹ hai đồn An Hải, Điện Hải và pháo đài Phòng Hải, mà đem tâm tu chỉnh, thời bọn giặc dù muốn dòm nom cũng không thể thừa được sơ hở của ta. Đó là kế hoạch lớn, ràng rịt cửa tổ ngay từ lúc chưa mưa, để giữ vững bờ cõi của mình" [94, 275].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Giêng 1857, với sự kiện hai chiếc tàu đậu tại cửa Hàn rồi chạy đi, Đào Trí Phú tâu: “Xin chia phái biền binh để lại cho đủ số phòng giữ, còn bao nhiêu đều triệt về cho nghỉ”. Vua Tự Đức đồng ý, chỉ để hai ban lính Long Võ và Hùng Nhuệ ở lại phòng bị. Ông cho rằng: “cửa Hàn là chỗ cửa biển hệ trọng, bây giờ tàu Pháp chạy đi rồi, mà những việc làm cho vững về sau phải nên tính trước. Bèn khiến bọn Đào Trí hội với quan tỉnh kê khoản tâu lên, hậu chỉ thi hành. Bọn Đào trí đem các sự nghi dâng sớ tâu: 1. Đặt đồn Trấn Dương ở chóp núi, để 20 khẩu súng đại bác; 2. Xin từ thành An Hải tới núi Sơn Chà, từ thành Điện Hải đến cửa Thanh Khê đều đắp lũy cát, trồng gai gốc ngăn giữ; 3. Xin triệt bãi đồn nhứt đồn nhì. Ngài truyền về Kinh ứng hậu” [29, 378].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài An Hải, Điện Hải và pháo đài Định Hải, thường xuyên được nhắc đến, năm 1840 còn đặt thêm pháo đài Phòng Hải. Trong lời nghị chuẩn cho biết: “ngọn đỉnh giữa núi Diên Chủng đặt thêm pháo đài Phòng Hải, là để ngăn ngừa những thuyền đến từ ngoài biển, mà cùng với thuyền lớn đậu, chiếu ứng lẫn nhau; vậy phái 50 biền binh đến đóng giữ đài ấy” [74, 665].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai đài Phòng Hải và Định Hải làm nhiệm vụ quan sát, biền binh hai đài Định Hải, Phòng Hải ngày nào cũng thường đem ống kính thiên lý trèo lên cao quan sát. “Nếu ngoài biển xa có thuyền ngoại quốc đến, hễ thấy 1,2 thuyền thì treo cờ gấm màu trắng, màu đỏ làm hiệu. Nếu 3, 4 chiếc thuyền thì phải làm hiệu để hô, ứng” [74, 665].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước đó, từ năm 1826 Minh Mạng cho xây đắp cửa ải Hải Vân dùng quan sát cửa biển từ trên cao, “trước sau đều làm một cửa, cửa đàng trước viết 3 chữ “Hải Vân quan”, cửa đàng sau viết 6 chữ “Thiên Hạ đệ nhất hùng quan”, mé bắc cửa quan là tỉnh Thừa Thiên, mé nam cửa quan thuộc tỉnh Quảng Nam, vua sai lính phải theo viên chức Trấn thủ để đóng giữ” [94, 234]. Minh Mạng năm 12 (1831) đắp cửa Hải Sơn ở trên núi Hải Vân, gọi tên núi ấy là núi Cao An [94, 243], [xem mục 2.4.2].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thiệu Trị năm thứ 7 (1847) chuẩn: “đảo nhỏ ở phái đông núi Diên Chủng, 4 mặt đường đi thông suốt, thuyền bè ra vào dừng đậu, tất phải qua đấy. Nên phải đặt làm một bảo, cốt là 2 mặt có thể đặt súng lớn, vẫn gọi là đồn trấn dương thứ hai; lúc vô sự chỉ liệu lưu số lính pháo tỉnh ít nhiều để coi giữ súng đạn, khí giới, bất tất lưu binh đóng giữ thường xuyên nữa” [74, 666].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bên cạnh việc xây dựng, nhà Nguyễn thường quan tâm củng cố, như như năm 1840, vua “lấy cớ vùng Trà Sơn ở cửa bể Đà Nẵng là chỗ xung yếu ở vùng bể, việc phòng bị nên mười phần chu đáo, mới sai Binh bộ Hữu Tham tri là Nguyễn Công Trứ đem lũ Phó vệ úy là Tôn Thất Tường đi trước để khám xét những chỗ có thuyền to “khỏa đồng” đóng lại, nên thêm mấy cỗ súng đại bác và bao nhiêu binh lính cho đủ. Và trông xem chỗ nào là xung yếu ở dọc bờ bể mà địa thế bằng phẳng đều đặt pháo đài, để ở trên bờ và dưới thuyền cứu ứng lẫn nhau, hoạ đồ tâu cho đủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Khi Nguyễn Công Trứ trở về tâu: “các hiệu thuyền Thuỵ Long, Phấn Bằng, Thanh Loan mỗi thuyền nên phái 100 tên lính, 10 cỗ súng qúa san, 100 súng ô sang, 50 cái dáo dài cho đầy đủ... Bãi Duyên Chuỷ ở vũng Trà Sơn, 4 mặt đều rộng, đối với pháo đài Định Hải cũng là một địa thế hiểm yếu, nay xin lập pháo đài ở đấy để giúp đỡ lẫn nhau. Còn như binh lính để giữ pháo đài, phần nhiều lười biếng coi thường không để ý việc sử dụng súng đại bác, sợ khi gặp việc lầm lỡ, xin phái lính ở Kinh đến kiểm điểm, lại tùy nghi thêm lính để phòng giữ”. Vua khen lời tâu mà sai xây đắp, cho tên là pháo đài Phòng Hải [94, 275].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đến thời Tự Đức, khi thực dân phương Tây thăm dò ngày càng ráo riết, đoán biết được điều đó, ngày 18-7-1857, ba bộ Hộ, Binh, Công đệ trình tập hồ sơ “phòng thủ hải cảng” của Đào Trí xin xây hai pháo đài ở cửa biển Đà Nẵng, củng cố đồn lũy để chống quân Pháp xâm phạm hải cảng [120, 52].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; cho biết về hệ thống phòng thủ ở vùng Đà Nẵng - Quảng Nam như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;- Thành Điện Hải: ở phía tả tấn Đà Nẵng, cách huyện Hoà Vang 12 dặm về phía đông, chu vi 139 trượng, cao 1 trượng 2 thước, hào sâu 7 thước, mở 3 cửa, dựng 1 pháo đài và 30 sở pháo đài. Năm Gia Long thứ 12 đắp đài ở tấn Đà Nẵng hơi gần bãi biển; năm Minh Mạng thứ 4 dời đến chỗ hiện nay và xây bằng gạch, năm thứ 15 đổi làm thành; năm Thiệu Trị thứ 7 xây lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Thành An Hải ở phía hữu tấn Đà Nẵng, thuộc xã An Phú huyện Diên Phước, chu vi 41 trượng 2 thước, cao 1 trượng 1 thước, hào sâu 1 trượng, mở 2 cửa, dựng 2 kỳ đài và 22 sở pháo đài. Năm Gia Long thứ 12 đắp bằng đất, gọi là bảo An Hải, năm Minh Mạng thứ 11 xây bằng gạch, năm thứ 15 đổi làm thành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Pháo đài Định Hải: ở phía tả tấn Đà Nẵng, thuộc núi Định Hải huyện Hoà Vang, chu vi 25 trượng 3 thước linh, cao 5 thước 8 tấc, mở 1 cửa, dựng 1 kỳ đài và 7 sở pháo đài. Xây năm Minh Mạng thứ 4.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Pháo đài Phòng Hải: ở phía đông bắc tấn Đà Nẵng, trên ngọn núi Diên Chủy thuộc xã Mân Quan huyện Diên Phước, dài rộng 9 thước, cao 6 thước 3 tấc, mở 1 cửa, dựng 1 kỳ đài và 19 sở pháo đài, xây năm Minh Mạng thứ 21, năm Thiệu Trị thứ 7 sửa lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Bốn bảo Trấn Dương: ở phía hữu tấn Đà Nẵng. Bảo thứ nhất ở hòn Diên Chủy (Mỏ Diều), chu vi 23 trượng, cao 4 thước; bảo thứ hai ở hòn Cô, chu vi 41 trượng, cao 4 thước 3 tấc; hai bảo thứ 3 và thứ 4 ở phía tây chân núi Sơn Trà, chu vi 8 trượng, cao 2 thước 7 tấc. Kính xét: năm Thiệu Trị thứ 4 đắp 7 bảo, đúc đại bác chia đặt ở các bảo, gọi là 7 bảo Trấn Dương; năm Tự Đức thứ 3 triệt bỏ 3 bảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Tấn biển Cu Đê: ở cách huyện Hoà Vang 27 dặm về phía bắc, tức chỗ cửa sông Cu Đê. Cửa lạch rộng 25 trượng, thủy triều lên sâu 4 thước 5 tấc, thủy triều xuống sâu 3 thước. Đầu đời Gia Long đặt 1 viên thủ ngự và thủ dân để tuần phòng ngoài biển, xét hỏi những người đi lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Tấn biển Đà Nẵng: ở địa giới 2 huyện Diên Phước và Hoà Vang, là chỗ 2 dòng sông Cẩm lệ và Vĩnh Điện chảy ra biển, cửa lạch rộng 105 trượng, thủy triều lên sâu 5 thước, 5 tấc. Đầu đời Gia Long đặt 1 viên thủ ngự, 1 viên hiệp thủ và 17 người thủ binh, năm Minh Mạng thứ 9 cấp cho ngựa trạm; năm 25 đặt vọng lâu ở tấn sở, cấp cho kính thiên lý để xem xét ngoài biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Tấn biển Đại Chiêm: ở cách huyện Diên Phước 25 dặm về phía đông, bờ tả thuộc xã Phúc Trạch huyện Hoà Vang, bờ hữu thuộc xã An Lương huyện Lễ Dương, là chỗ sông Chợ Củi ra biển. Cửa lạch rộng 160 trượng, thủy triều lên sâu 6 thước, thủy triều xuống sâu 4 thước 5 tấc, là chỗ tụ hợp thuyền ghe nam bắc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Tấn biển Đại Áp: ở cách huyện Hà Đông 62 dặm về phía Đông, lại có tên là cửa biển Hoà Hiệp, là chỗ hai dòng sông Bến Ván và Tam Kỳ ra biển, cửa lạch rộng 40 trượng, thủy triều lên sâu 6 thước, thủy triều xuống sâu 4 thước 5 tấc. Đầu đời Gia Long đặt 1 viên thủ ngự và 1 viên hiệp thủ với thủ binh để tuần phòng ngoài biển. Lại có cửa biển Tiểu Áp cách cửa biển Đại Áp chừng 7 dặm, khoảng đời Minh Mạng bị cát lấp nên thủ sở hợp vào với thủ sở Đại Áp [80, 370-374].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với lát cắt thời gian vào thời Tự Đức, tác giả Lưu Anh Rô [97] qua khảo sát thực tế khái quát công cuộc phòng thủ ở Đà Nẵng theo một hướng khác. Đó là khảo tả hệ thống đồn bảo từ bắc Hải Vân đến nam Cẩm Lệ rồi vòng sang bán đảo Sơn Trà cho thấy đây thực sự là một hệ thống phòng thủ dày đặc [PL 14]: “phía bắc vào có Hỏa Phong, Hải Vân quan, Chân Sảng, Định Hải, tấn Cu Đê, Cẩm Khê. Trên núi Sơn Trà và các đảo phụ cận như đảo Cô, Mỏ Diều thì có Trấn Dương thất bảo, pháo đài Phòng Hải. Vào sâu chút nữa thì có tấn Đà Nẵng, thành An Hải, đồn Nại Hiên, Hóa Khuê, Mỹ Thị. Đối diện An Hải là thành Điện Hải và các đồn Hải Châu, Hóa Khuê, Phước Ninh, Thạc Gián, Liên Trì, Cẩm Lệ” [97, 31-46].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việc bố trí lực lượng ở các thành, đồn ở Đà Nẵng và Quảng Nam, Hội điển cho biết: hai thành Điện Hải, An Hải và pháo đài Định Hải, Phòng Hải, mỗi thành đặt thủ úy 1 viên, và các bảo Trấn Dương, lệ phái 400 tên biền binh thuộc tỉnh đóng giữ ở đấy. Ở tấn Đà Nẵng: chánh bát phẩm thư lại 1 viên, thuộc lệ 78 tên. Tấn Đại Chiêm: tấn thủ 1 viên, thư lại 1 viên, thuộc lệ 17 tên. Xứ cù lao Đại Chiêm: thuộc lệ 36 tên. Tấn Đại Áp: tấn thủ 1 viên, thư lại 1 viên, thuộc lệ 25 viên... Gia Long năm thứ 5 (1806) định về số dân lệ ở tấn “Đà Nẵng 78 tên, Đại Chiêm 30 tên và cù lao Đại Chiêm 4 tên, tấn Câu Đê 8 tên, đều theo địa phận tấn mà phòng thủ” [74, 662].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hàng năm cứ đến 1 tháng 7 làm kỳ hạn thay đổi. Nhưng nhìn chung việc thay đổi cũng tuy vào tình hình cụ thể. Như năm 1830 qui định: “trước đây đã phái biền binh ở hậu vệ doanh tiền phong ra đi đóng giữ hai thành Điện, An đều cho lấy ngày 1 tháng 3 đến để sai phái, không nên chia ban, để nghiêm việc phòng bị. Nay đường biển hiện tại yên tĩnh, cho lấy ngày 1 tháng 6 nhuận thì biền binh vệ ấy đều phải rút về hàng ngũ ở Kinh. Lại phái biền binh ở thủy sư Quảng Nam ra đến 2 thành ấy ở quân ngũ, 1 ban cho về nghỉ ngơi. Năm 1836 lại dụ: “Lệ quân đóng trường kỳ hai thành Điện, An, từ trước đến nay chuyên lấy bộ binh đóng dài hạn, thấy chưa được chu đáo. Nay cho từ giờ về sau, phàm đến kỳ chia ban, thì 2 vệ Tả, Hữu thủy ở tỉnh cũng cho cùng với bộ binh 1 loạt chia làm 3 ban. Về quân lính phái đi đóng lâu dài ở 2 thành ấy và chia giữ pháo đài Định Hải, nên liệu đem phái 3 phần bộ binh, 1 phần thủy binh cho đủ số 1 vệ 500 tên, mỗi tháng 1 lần thay phiên” [74, 664].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1830, Minh Mạng ban chỉ: “biền binh 5 vệ ban trực quân thần sách, hàng năm theo thứ tự phái đi đóng giữ 2 đài Điện Hải, An Hải. Nay cho được thêm: từ nay trở đi, phàm viên đương lượt mình phòng thủ, cứ tất cả những nơi đáng phải phòng thủ như một dãy bờ biển bến sông trong vùng Trà Sơn gần đài, cùng thuyền công vận tải đường biển đi về dừng đậu ở phận biển Đà Nẵng, đều phải gia tâm chia phái tuần phòng; cho đến hạng thuyền lớn bọc đồng thường đậu ở tấn ấy cũng phải cùng với biền binh ở thuyền coi giữ giúp nhau, để đề phòng sự bất ngờ” [74, 663].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1836, nghị chuẩn: “hai thành Điện Hải, An Hải và pháo đài Định Hải đều là nơi quan trọng ở bờ biển. Năm trước đây, thành Điện Hải nguyên đặt thành thủ úy, một viên lãnh binh kiêm quản hai thành Điện, An và pháo đài Định Hải. Hàng năm phái lấy một vệ Kinh binh đi đến hai thành ấy theo quan lãnh binh chia phái đóng giữ các nơi. Còn biền binh ấy vẫn chia làm hai ban, mỗi tháng 1 lần thay đổi. Năm ngoái đã phái biền binh ở thủy vệ Quảng Nam đi đến 2 thành ấy đổi canh, thì lệ ban cũng theo thế thay đổi. Nhưng thành Điện Hải so với thành An Hải càng quan trọng hơn. Nay thành Điện Hải đặt một viên quản vệ đóng giữ và 300 tên biền binh; thành An Hải chuyên đặt 1 viên phó vệ úy hoặc thành thủ úy đóng giữ và 200 tên biền binh. Lại đặt một viên lãnh binh kiêm quản 2 thành ấy và pháo đài Định Hải, cho nó thông thuộc. Về số biền binh thì phái lấy một vệ biền binh thổ tước (biền binh người địa phương cũ) 500 tên, giao viên cai quản, chia phái canh giữ. Lại hơn 500 viên danh biền binh Thủy vệ, cũng cho phép lưu lại đóng trường kỳ ở đấy. Nhưng trong số biền binh, liệu chia lấy 300 tên do viên phó vệ úy ấy cai quản đốc suất, cùng với quan lãnh binh cùng đóng ở thành Điện Hải. Còn hơn 200 viên danh, lại giao cho viên thành thủ úy cai quản đôn đốc, thường đóng ở thành An Hải, do quan lãnh binh kiêm lĩnh. Nhưng chiểu từ tháng 10 đến tháng 3 là mùa các thuyền biển đi lại thì toàn số binh vệ ấy phải lưu ban sung vào sai phái. Từ tháng 4 đến tháng 9, thuyền biển ít đi lại, việc do thám hơi rỗi thì lại theo lệ cũ chia ban” [74, 663-664].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về sau, một số tấn không quan trọng đều bỏ, Cu Đê là một thí dụ, năm Tự Đức năm thứ 4 (1851) chuẩn: “tấn Câu Đê cửa biển nông hẹp, ngoài biển đã có tấn Đà Nẵng, theo hạt tuần thám thì tấn ấy nên bỏ bớt đi, mà số dân lệ thuộc bao nhiêu thì giao về ghi sổ đinh ở làng chịu sai dịch; viên tấn thủ thì rút đi” [74, 666].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tóm lại do ở vào một vị trí đặc biệt, lại được chọn làm cửa ngõ duy nhất đón tiếp các tàu buôn phương Tây nên Đà Nẵng đương nhiên được chú ý xây dựng một hệ thống phòng thủ vững chắc nhằm đối phó với âm mưu xâm xâm lược, chính hệ thống phòng thủ đã nói lên điều đó. Các vua Nguyễn vẫn thường xuyên lưu ý đề phòng những chiếc tàu có quốc tịch phương Tây: “cửa biển Đà Nẵng nếu thấy có thuyền Tây dương hay qua mặt biển, mà hoặc đi vào vũng Trà Sơn lạm cắm neo thì viên lãnh binh và tấn thủ chuyên coi hai thành ấy, lập tức phải xem xét hình dạng thuyền ấy là thuyền binh hay thuyền buôn. Một mặt đem qua tình hình chạy ngựa tâu trước, một mặt phái người đến xét hỏi. Như quả lả thuyền binh, không có sự trạng quan ngại gì thì chỉ đưa tàu theo lệ tối khẩn thôi [74, 664]. Cho đến năm 1839, đánh giá về sự bố phòng ở Đà Nẵng Minh Mạng đã có vẻ bằng lòng: “tấn Đà Nẵng là nơi quan trọng ở miền bờ biển, nguyên đặt hai thành An Hải, Điện Hải, việc phòng bị đủ nghiêm” [74, 665].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy vậy trên thực tế lại rất khác, chúng tôi chia sẻ ý kiến của tác giả Lưu Anh Rô khi cho rằng: “Đó là một hệ thống bố phòng dày đặc song do đường ven biển của Đà Nẵng khá dài nên sự “rải ra” của các đồn và tấn sở ở Đà Nẵng là một điểm yếu khó khắc phục, khi bị tấn công chúng khó lòng mà cứu ứng lẫn nhau” [97, 46]. Điều này đã được chứng minh trên thực tế của cuộc chiến tranh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2.4.2. Hệ thống phòng thủ ở cửa biển Thuận An&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các cửa biển phủ Thừa Thiên quan trọng nhất là Thuận An. Dưới triều Nguyễn, Thuận An được xây dựng hệ thống bố phòng chu đáo nhằm bảo vệ cho Kinh đô Huế. Bên cạnh cửa Thuận An, nhà Nguyễn còn xây dựng hệ thống phòng thủ ở các cửa biển khác để bổ trợ, bởi “Kinh sư là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng giữa miền nam miền bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm; đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân chặn ngăn” [89, 13]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xác định Thuận An là cửa biển quan trọng (được đúc vào Nghị Đỉnh [PL 11]), tháng 3-1813 Gia Long đổi cửa Eo làm cửa Thuận An, xây đài Trấn Hải, sai Nguyễn Đức Xuyên trông coi công việc. “Vua thấy là nơi trọng yếu của hải cương (bờ cõi phía biển), bèn xây đài ở bên cạnh. Lại thấy bờ biển ở trước đài nước biển ngày vỗ xói vào, gần tới chân đài, bèn sai đóng cọc xây kè để chống sóng biển. Thưởng cho binh lính làm việc hơn 10000 quan tiền. Dân phu phụ giữ được miễn thuế thân, hàng năm cấp cho gạo lương 200 phương. (Chỗ này nguyên tên là Noãn hải khẩu, tục gọi là Eo, ý nói là nơi nông hẹp khó đi. Ở Kinh sư chỉ có cửa này và cửa Tư Dung là hai. Từ khi cửa Tư Dung ngày cạn thì sự hải vận đều ra cửa này, rất xung yếu mà đường lạch quanh co, bên cạnh có bãi cát ngầm rất trở ngại cho đường biển)” [79, 859].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các vua triều Nguyễn đều rất quan tâm tới vị trí trọng yếu này, hàng năm vua thường ra cửa Thuận An xem đài Trấn Hải [79, 860], bởi nó là tiền đồn của Kinh thành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng 11-1813, Gia Long định điều lệ án thủ Trấn Hải đài 10 điều rất rõ ràng, đáng lưu ý có các điều: 1/ Quan quân đóng giữ mỗi tháng đổi một lần, khâm phái 1 viên quản vệ Thị trung Thị nội hoặc Thần sách vâng lãnh hợp phù lệnh tiễn làm quan Án thủ đài, quản suất biền binh đương thứ đến đóng giữ. Viên án thủ trước xét nghiệm rõ ràng mới giao thay việc, rồi đem số biền binh phái trước cùng phù tiễn cấp trước về Kinh phục mệnh. 2/ Đổi phái biền binh hàng năm cứ từ ngày 1 tháng 4 đến cuối tháng 7, mỗi tháng 250 người quân Thị trung, Thị nội, Thần sách; 50 người các đội Trung hầu, Chấn uy; 10 người các đội Nội hầu, Tiểu sai, cộng 310 người. Từ 1 tháng 8 đến cuối tháng 3 năm sau, mỗi tháng 80 người quân Thị trung, Thị nội, Thần sách; 20 người các đội Trung hầu, Chấn uy; 5 người các đội Nội hầu, Tiểu sai, cộng 105 người. 4/ Nếu khi ngoài khơi có báo động, không có lệnh truyền báo mà đi chạy ở ngoài quách thì đánh 100 trượng; thiện tiện đến cửa đài thì trị tội theo quân pháp. 5/ Súng đạn ở trong đài thường phải kiểm soát luôn. 8/ Tấn thủ Thuận An có tin báo về việc ngoài biển [về người Tây dương], hoặc thấy hiệu lửa ở đài hỏa hiệu Quy Sơn cửa biển Tư Dung, tức thì một mặt sắp quân phòng bị, một mặt phái người chạy tâu. 9/ Đầu bến đò Thái Dương phải sức bắt thuyền dân sở tại ứng trực cho tiện quan quân đi lại [79, 870].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sách &lt;em&gt;Hội điển&lt;/em&gt;, phần nói về "đồn cửa biển" cho biết phân công phòng giữ các cửa biển vùng Kinh sư khá chi tiết như: “viên quản thủ cửa biển Thuận An bắt dân phu ở gần lũy ngồi hạng thuyền (đánh cá) nhanh nhẹn đi tuần thám mặt biển. Nếu thấy có đoàn thuyền lạ đi liền nhau từ 3 chiếc trở lên thì lập tức bắt 2 người quan đương phiên ở nội hầu, tiểu sai về Kinh tâu bày... Lại cửa biển Thuận An có báo việc biển hoặc thấy lửa ở Phong đài (đài đốt lửa để báo hiệu khi có việc quan trọng khẩn cấp) núi Qui Sơn (nay là Linh Thái) cửa biển Tư Hiền đốt lên, thì lập tức một mặt sám quân chuẩn bị thêm, một mặt phái người chạy mau đến tâu. Lại sở bến đò Thái Dương, phải bắt các thuyền của dân phu sở tại ứng trực ở đấy, để quan quân đi lại cho tiện. Ghi làm định lệ [74, 657-660].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các pháo đài thường xuyên được quan tâm xây dựng, củng cố và tăng cường vũ khí, đặc biệt đài Trấn Hải thường bị sóng xói vào nên phải thường xuyên tu bổ:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Mạng năm đầu (1820), sửa đắp đài Trấn Hải, vua bảo Lê Chất rằng: “đức tiên đế sai đắp đài này là để phòng giữ cửa bể Thuận An, gần đây vì sóng bể làm lở, muốn được vững chắc thời nên dùng cách gì?”. Lê Chất xin cắm nhiều cây bằng gỗ mà trong đổ gạch, đá. Vua cho là phải rồi sai Lê Chất đốc suất việc làm, sau đất cát bồi dần ở bên ngoài, vua mừng mà dụ rằng: “có để giữ lại thời pháo đài được vững bền, đó là lòng trời mà không phải sức người làm nổi” [94, 227].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1830, tiếp tục tu bổ, xây lại cửa pháo đài và đắp thêm chỗ trước mắt, sai quan Thống chế thần sách Tả dinh là Đỗ Quý đốc suất việc làm. Vua dụ bảo Công bộ rằng: “sửa lại pháo đài này công trình trọng đại phí tổn rất nhiều, bản Bộ nên truyền chỉ của trẫm cho những người giám tu và chuyên biện đều nên thật lòng cố sức, cần được chắc chắn và bền chặt, để một lần vất vả mà để lại được lâu dài trấn lâu chỗ bờ bể”. Rồi vua sai chuyển vận súng đạn và thuốc súng trú tại pháo đài” [94, 241]. Cùng năm ấy Minh Mạng đến Thuận An, xem pháo đài Trấn Hải và đánh giá rất cao việc phòng giữ cửa biển xung yếu này: "mấy năm nay cửa bể này mỗi ngày một sâu, hai bờ cát bồi lên ôm lấy bên tả bên hữu, lại có pháo đài để phòng giữ, thời phía ngoài thời có thuyền tàu hàng nghìn cũng không làm gì được, thật là thành bằng đồng và hào chứa nước sôi của Kinh sư vậy" [94, 240-241]. Năm 1834, cho đổi tên đài Trấn Hải làm thành Trấn Hải bởi Minh Mạng cho rằng: "đài Trấn Hải, nguyên đặt có thành và hào, là nơi biển được trấn giữ mạnh mẽ, không bì như pháo đài khác, vậy cho gọi là thành" [74, 660].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm 1832, Minh Mạng chuẩn: “số người thuộc lệ của Tấn thủ cửa biển Thuận An là 124 tên, nay dồn làm 3 đội Thuận An nhất, nhị, tam. Mỗi đội đặt 1 viên chánh đội trưởng suất đội và 2 viên đội trưởng. Lại xét cửa biển ấy là nơi đường biển ra vào xung yếu của Kinh sư, trừ ra 1 viên Thủ ngự để như cũ; nay đặt thêm 1 viên Tấn thủ trật tòng tứ phẩm, quản lý viên Thủ ngự và nhất thiết công việc tấn của biền binh 3 đội ở tấn ấy. Về chức văn thì đổi đặt 1 viên Bát phẩm thư lại, lệ thuộc để làm việc công” [74, 659]. Năm 1836, chuẩn: 2 tấn Chu Mãi, Cảnh Dương, nguyên lệ gồm có 9 tên. Vậy trích bắt dân quanh ở đấy hợp cùng dân lệ cũ cho đủ mỗi tấn đều 50 tên. Năm 1838 chuẩn, “trấn Thuận An trở vào nam, dân tráng 36 xã thôn, chia làm 6 thành, trích lấy 1 thành, hiện số 192 tên đặt làm 4 đội tứ, ngũ, lục, thất mỗi đội đều đặt chánh đội trưởng, suất đội đội 1 người, đội trưởng và ngoại ủy đội trưởng đều 2 người, cùng với 3 đội nhất, nhị, tam ở ngạch cũ, cọng 7 đội, gọi là vệ Phong Hải (trước đặt gọi là vệ Tuần Hải, nay đổi lại) đặt 1 viên quản vệ chuyên coi biền binh vệ ấy. Hàng năm, ngày 15-1 đều bắt các đội ấy cùng 3 ngạch cũ ra biển do thám [74, 661].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tháng Giêng năm 1857, sau vụ tàu Pháp gây hấn ở Thuận An và Đà Nẵng, Thuận An được tiếp tục tăng cường phòng thủ, “quan phủ Thừa Thiên tâu xin đắp hai bờ lũy vòng câu ở cửa Thuận An, bên bãi cát, phía nam và phía bắc để giúp việc phòng giữ, ngài nghe theo” [29, 378].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cho đến đến thời Tự Đức, hệ thống phòng thủ được chép trong sách &lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Thành Trấn Hải ở cửa Thuận An: “ở phía đông huyện Hương trà và phía bắc cửa biển Thuận An. Năm Gia Long thứ 12, đắp đài tròn. Thành chu vi 71 trượng 2 thước, cao 15 thước; đài chu vi 17 trượng 2 thước; cao 11 thước; hào rộng 1 trượng, sâu 6 thước; 1 cửa: trên thành có 99 sở ụ súng. Gọi là Trấn Hải đài. Sau thấy trước mặt đài, nước biển ngày xói vào gần tới đường ngoài quách, bèn đóng cừ xây đá để ngăn sóng, lại trồng hơn 4000 cây dừa ở bờ biển. Cát bờ thường bị sóng đánh lở; năm Minh Mạng thứ 1 và thứ 12, tu bổ và xây thêm kè đá, bờ nước thì đóng cừ, xếp đá kiên cố hơn trước. Năm thứ 15, đổi gọi là Trấn Hải thành (xem xét tình hình ngoài biển), bên hữu thành dựng hành cung kiểu lầu đôi. Động cát xung quanh trồng hơn 9000 cây dừa; lại ở bãi sò ở đối ngạn cũng trồng hơn 300 cây dừa, thành ra hai bên bờ đông tây lá cây dừa phủ rợp, trông rất xanh tươi. Năm thứ 17, xa giá đến đây thao diễn thủy sư… Năm thứ 20, kè đá lại lở, có ý kiến bàn dời đi nơi khác, vua dụ rằng: “Phàm tránh nước như tránh giặc, nếu ta lùi một bước, thì nó lại tiến một bước, chung qui không phải là việc tốt”. Bèn sai gia công trùng tu. Năm thứ 21, chế một cái đèn lồng lớn, quanh thân đèn 7,8 thước, đêm đến treo trên thành, sáng như mặt trời, để cho thuyền biển nhận biết tấn sở. Năm Thiệu Trị thứ 3, xa giá đến thao diễn thủy sư có thơ ngự chế “tám cảnh Thuận An”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Tấn Thuận An: ở phía đông huyện Hương Trà, đầu đời Gia Long lập thủ sở, đặt một chức thủ ngự và một chức tấn thủ, có 3 đội lính lệ đi tuần phòng ngoài biển và hộ tống thuyền quan ra vào. Năm Minh Mạng thứ 15, dựng vọng lâu ở tấn sở, cấp cho thiên lý kính để xem tàu thuyền ngoài biển; năm thứ 17, đúc cửu đỉnh, khắc tượng vào Nghị Đỉnh” [PL 11]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Tấn Tư Hiền: ở phía đông bắc huyện Phú Lộc, cửa biển rộng 8 trượng, thủy triều lên sâu 3 thước, thủy triều xuống sâu 2 thước, nông, thuyền lớn không thể đi qua. Trước kia có đặt thủ sở đóng quân tuần phòng ngoài biển. Xét cửa cũ biển Tư Hiền ở phía nam chỗ gần núi phỏng 5 dặm. Tương truyền trăm mười năm trở về trước, cửa biển cũ rất rộng và sâu; thuyền tàu ra vào rất tiện; đầu đời Gia Long sông hẹp dần… đời Minh Mạng, nước cạn đến đỗi thuyền lớn không thể vào được” [89, 167-177]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài ra còn có tấn Cảnh Dương và tấn Chu Mãi ở Phú Lộc, tấn Việt An ở Đăng Xương (tấn Việt An sau được xếp vào Quảng Trị - Tg.) nhưng do cửa biển cạn nên thuyền lớn không vào được. Hai tấn Cảnh Dương và Chu Mãi trước đó thuộc quản lý của thủ ngự Hải Vân. Năm 1826 tấn Chu Mãi đặt một viên thủ ngự và một viên hiệp thủ kiêm giữ việc tấn Cảnh Dương. Bên cạnh đó, tấn Hải Vân ở phía đông nam huyện Phú Lộc có đặt thủ sở “để xét hỏi hành khách và tuần phòng ngoài biển” [89, 177].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cần lưu ý rằng, ngoài những thành, đồn, tấn sở trên còn có Hải Vân quan - một căn cứ góp phần đắc lực cho việc phòng giữ các cửa biển. Hải Vân quan được xây dựng trên núi Hải Vân với nhiệm vụ quan sát các cửa biển từ trên cao, chủ yếu là cửa biển Đà Nẵng để kịp thời báo về Huế những thông tin nhanh và chính xác nhất. Song do vị trí đặc biệt của nó, Hải Vân quan được xếp vào hệ thống phòng thủ vùng Kinh sư với lẽ tất yếu rằng chức năng phòng giữ có vị trí đặc biệt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; cho biết về cửa Hải Vân như sau: “Ở phía đông nam huyện Phú Lộc và trên đèo núi Hải Vân, phía trước phía sau đều xây một cửa. Trên cửa phía trước đề ba chữ “hải Vân quan”, trên cửa phía sau đề sáu chữ “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”. Cửa trước cao dài đều 15 thước, ngang 17 thước 5 tấc; cửa sau cao 15 thước, dài 11 thước, ngang 18 thước 1 tấc; cửa tò vò đều cao 10 thước 8 tấc, ngang 8 thước 1 tấc. Phía tả hữu cửa quan xếp đá làm tường, trước sau tiếp nhau. Dựng từ năm Minh Mạng thứ 7; đầu đặt 1 viên phòng thủ úy đóng lâu; biền binh thì cứ 15 ngày đổi; lại cấp cho thiên lý kính để trông ngoài biển, phàm thuyền nước ngoài vào cửa biển Đà Nẵng thì phải báo trước cho cửa quan này” [89, 168-169].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về việc phân công trú phòng ở Hải Vân quan, năm 1826, Minh Mạng ban chỉ: “trước đây phái biền binh hai đội: đội đệ tứ Hữu sai, đội đệ nhị Dực tiệp, cắt phiên từng ban canh giữ. Nay cho đến 1 tháng 9 bắt đầu, mỗi tháng 1 ban, mỗi ban chỉ phái một nửa đội binh cắt phiên canh thay đổi, để san sẻ sự khó nhọc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau, Minh Mạng lại ban chỉ: cho phái binh đinh các viện đội Tiểu sai, Kim sang (nay là viện Vũ bị) thượng tứ đến đóng giữ tấn ở Hải Vân quan, cho 10 ngày làm 1 ban, mỗi ban 2 tên lần lượt thay đổi canh phòng. Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), lại ban chỉ, bổ sung, "cho phái thêm 1 tên nhà trạm, đều cứ 10 ngày 1 lần thay đổi, thường xuyên đóng giữ trên cửa quan để hội đồng với binh ấy trông coi. Nhưng năm sau 1829, lại ban chỉ: chuẩn cho các vệ ở thị nội, thần sách, các bảo, các quân, do các cai quản theo thứ tự phái lấy viên suất đội và 50 tên biền binh đến đóng giữ Hải Vân quan, mỗi tháng thay phiên 1 lần.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tự Đức năm đầu (1848) chuẩn: “Nay đã đặt thêm đại bác, thì bắt thêm 10 tên lính các hạng, và 20 tên pháo thủ doanh thần cơ, cùng 50 tên phái trước, do thành thủ úy cửa quan ấy chia phòng thủ, chiếu lệ thay đổi”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên thực tế, việc trú phòng tại Hải Vân quan không nhất thiết như những qui định ấy bởi cũng có sự thay đổi tùy theo yêu cầu công việc, song do vị trí đặc biệt nên Hải Vân quan rất được quan tâm với lực lượng thường trực tương đối lớn mà thời gian thay ban cũng thường xuyên hơn vì nơi đây "khí núi hơi nặng" [74, 660-661].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhiệm vụ của Hải Vân quan rất rõ, đó là “phòng khi trông nom các thuyền ngoài biển, nếu có công việc quan trọng khẩn cấp đều phải thông báo ngay; đặc biệt lưu ý đến các tàu thuyền lớn ra vào cửa biển: “Phàm các loại thuyền lớn đi lại mặt biển ấy, nếu là thuyền của nước ta thì tất phải nhận kỹ, đúng là thuyền lớn của các hiệu 5 cột buồm bọc đồng hoặc 2 cột. Có bắn pháo treo cờ làm hiệu hay không, hay là thuyền ngoại quốc, cũng phải nhận rõ hình dạng, đều đem cả thời khắc mình trông thấy, và tình hình thực tại, lập tức làm phiếu tâu do Bộ chuyển tâu” [74, 661].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tóm lại, dưới thời Nguyễn, nhà nước đã đã rất chú ý bảo vệ cửa biển vùng Kinh sư, đặc biệt là cửa biển Thuận An với công trình quân sự kiên cố là thành Trấn Hải, thường xuyên được bổ sung, tăng cường lực lượng và vũ khí, có nhiệm vụ phòng giữ, kiểm soát tàu thuyền ra vào. Bên cạnh đó là tấn biển Tư Hiền, Chu Mãi, Cảnh Dương, Hải Vân ngoài nhiệm vụ phòng giữ tại chỗ còn là “tai mắt” của triều đình với nhiệm vụ bảo vệ nói chung. Đáng lưu ý là cửa ải Hải Vân do nằm vào vị trí đặc biệt nên được xếp và sự quản lý trực tiếp của Kinh sư, là một cứ điểm phòng thủ và có nhiệm vụ kiểm soát vùng biển (chủ yếu là Đà Nẵng) từ trên cao. Với một hệ thống phòng thủ liên hoàn ở các cửa biển, nhà Nguyễn đã thể hiện mong muốn giữ vững bờ cõi từ phía biển.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;2.4.3. Hệ thống phòng thủ ở các tỉnh&lt;/strong&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngoài hai cửa biển được bố phòng chu đáo với lực lượng mạnh là Đà Nẵng và Thuận An thì ở các tỉnh ven biển khác đều có tổ chức phòng thủ với mức độ khác nhau. Sách &lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; và &lt;em&gt;Hội điển&lt;/em&gt; của triều Nguyễn chép theo thứ tự vùng Kinh sư (phủ Thừa Thiên), Tả trực (Quảng Nam, Quảng Ngãi), Hữu trực (Quảng Trị, Quảng Bình), Tả kỳ (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận) và Hữu kỳ (Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa). Tuy nhiên ngày nay, để tiện theo dõi, chúng tôi trình bày thứ tự hệ thống phòng thủ các tỉnh miền Trung từ Thanh Hóa tới Bình Thuận.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;- Thanh Hóa&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sách &lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; có chép về các tấn biển Chính đại, Bạch Câu, Y Bích, Hội Triều, Hàn, Bang, trong đó tấn Bạch Câu và tấn Bang đến năm Tự Đức thứ 3 (1850) thì bãi bỏ thủ ngự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đáng chú ý là việc chú trọng bố phòng ở bảo Biện Sơn “ở cách huyện Ngọc Sơn 25 dặm về phía đông nam, ngoài cửa Bạng, chu vi 58 trượng 8 thước 8 tấc, cao 8 thước 2 tấc, có một kỳ đài, một nhà quân, 12 khẩu đại bác, một kho thuốc súng, đặt từ đầu đời Gia Long”. Pháo đài Tĩnh Hải: “ở tấn Biện Sơn (trên hòn Biện Sơn- Tg), chu vi 11 trượng 8 thước, cao 5 thước 5 tấc, có 1 kỳ đài, một nhà quân, và 4 khẩu đại bác, xây dựng từ năm Minh Mạng thứ 9” [90, 273-275].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về phân công bố phòng: hai pháo đài Biện Sơn, Tĩnh Hải: thành thủ úy 1 viên, trú binh 50 tên. Gia Long năm thứ nhất định: “các cửa biển trấn Thanh Hóa, đều đặt làm tấn thủ, đều bắt quanh vùng phụ giữ. Còn tấn Chính Đại thì cho dân ở trong Chính Đại làm phụ lũy (ở phụ vào chung quanh thành lũy).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Mạng năm thứ 10 (1829) chuẩn: pháo đài Biện Sơn, phái lấy một viên suất đội, 100 biền binh, một pháo thủ; pháo đài Tĩnh Hải, phái lấy 1 viên suất đội, 20 biền binh và 1 pháo thủ, đến đóng giữ các đài ấy. Tuy nhiên, 10 năm sau (1839) chuẩn: hai pháo đài Biện Sơn, Tĩnh Hải nguyên phái 100 biền binh đóng giữ. Nay gặp khi yên ổn ít việc, nhưng liệu lưu lại 50 tên [74, 677].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;- Nghệ An&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tấn biển tỉnh Nghệ An được chép trong sách Đại Nam nhất thống chí có tấn cửa Hội, cửa Xá, cửa Cờn (Cần), cửa Vạn, cửa Quèn, cửa Thơi, cửa Cương Giản, cửa Sót, cửa Nhượng, cửa Khẩu. Trong đó đáng lưu ý là tấn cửa Hội có đặt thủ ngự, hiệp thủ và 30 tấn binh, các tấn còn lại ban đầu có đặt thủ sở nhưng về sau, đến thời Tự Đức đều giao cho dân sở tại tuần phòng [90, 178-182]. Hội điển cũng cho biết việc bố trí ở tấn Hội, phòng thủ úy 1 viên, thừa biện thư lại 1 viên; tấn Vạn, tấn Thai, tấn Xã, tấn Quyền, tấn Cần đều do dân làng sở tại tuần giữ. Về sau các tấn không quan trọng cũng tùy nghi mà bỏ bớt [74, 676].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;- Hà Tĩnh&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sách &lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; tỉnh Hà Tĩnh nói đến tấn Cửa Nhượng ở cửa biển Kỳ La cũ và tấn Cửa Khẩu có đặt tấn thủ [90, 101-102]. Tuy nhiên hai tấn biển này vẫn được chép vào tỉnh Nghệ An có lẽ cũng do vị trí không lấy gì làm đặc biệt của nó. Sách Hội điển không chép về việc tuần phòng bờ biển của Hà Tĩnh một cách cụ thể nhưng lại có nói đến tấn Hà Tân, tấn Luật có đặt thủ ngự; Tấn Nhượng, tấn Khẩu, Hà Tân đều do dân làng sở tại tuần phòng [74, 675]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;- Quảng Trị&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sách &lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; có chép về tấn Lùng Luật và Việt An nhưng thuộc phần Kinh sư (phủ Thừa Thiên) có đặt thủ sở [89, 178]. Hội điển xếp hai tấn này vào tỉnh Quảng Trị: tấn Tùng Luật (ở cửa Tùng ngày nay), tấn thủ 1 viên, lệ dân 10 viên. Tấn Việt Yên/An (ở cửa Việt ngày nay): Tấn thủ 1 viên, lệ dân 17 viên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Năm Gia Long thứ nhất (1802), định: cửa biển Tùng Luật đặt 1 viên cai đội, đôn đốc quân dân phòng thủ. Cửa biển Việt Yên cũng đặt cai đội đôn đốc quân dân phòng thủ như lệ cửa biển Tùng Luật. Sau đều đổi làm tấn, nhưng bắt lấy dân làng ở gần quanh 21 tên sung làm lệ dân ở tấn Tùng Luật và 17 tên sung làm lệ dân ở tấn Việt Yên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Mạng năm 17 (1836) chuẩn: tấn Việt, nguyên lệ dân có 17 tên, nay trích bắt dân đinh gần quanh đấy, hợp cùng dân lệ thuộc cũ cho đủ 50 tên [74, 669].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;strong&gt;&lt;em&gt;- Quảng Bình&lt;/strong&gt;&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ năm 1824, sau khi xây đắp lại thành tỉnh Quảng Bình trên địa điểm Trấn Ninh, Động Hải cũ, vua Minh Mạng sai tu sửa mà đặt làm hai cửa quan, cửa Quảng Bình và Võ Thắng từ núi Đâu Mâu đến cửa Nhật Lệ, dài 4175 trượng, cao 7 thước 3 tấc [94, 232], [90, 49].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; tỉnh Quảng Bình có chép về các tấn biển Nhật Lệ, Linh Giang, Ròn, An Náu, Lý Hoà. Hội Điển có nhắc tới tấn Tiến Giang nhưng không thấy chép trong &lt;em&gt;Đại Nam nhất thống chí&lt;/em&gt; có lẽ do vị trí nó cũng không mấy quan trọng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong các tấn nói trên cũng chỉ tấn Nhật Lệ và Linh Giang được ghi chép tương đối kỹ hơn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Tấn Nhật Lệ: “ở huyện Phong Lộc, cửa tấn rộng 75 trượng, thủy triều lên sâu 6 thước, thủy triều xuống sâu 4 thước, có nhiều đá rạng, tấn thủ đặt ở đại phận thôn Động Hải...” [90, 51-52].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Tấn Linh Giang: “ở giới hạn hai huyện Bố Trạch và Bình Chính. Cửa tấn rộng 60 trượng, thủy triều lên sâu 7 thước, thủy triều xuống sâu 5 thước, có nhiều đá rạng, trước là cửa biển Bố Chính, khoảng năm Minh Mạng đổi tên hiện nay; tấn thủ đặt ở địa phận huyện Bố Trạch” [90, 52].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các tấn còn lại chỉ ghi sơ lược bởi trên thực tế nó không có nhiều công dụng, về sau đều không đặt hay bãi bỏ chức tấn thủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về phân công bố phòng, Minh Mạng năm thứ 9 (1828) chuẩn định: 3 tấn Nhật Lệ, Tiến Giang, Linh Giang từ trước đến nay không có thuộc lệ. Nay đều trích lấy dân xã gần quanh ở đấy, người nào thông thạo nghề thủy thủ thì cho sung làm thuộc lệ các tấn: 2 tấn Nhật Lệ, Linh Giang đều 20 tên; tấn Tiến Giang 10 tên [74, 670].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Xem tiếp phần 2)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Lê Tiến Công gửi vào ngày 05 tháng 10 HB6 (2006),&lt;br /&gt;lúc 02: 46: 18 -0700 (PDT) [06 tháng 10 HB6])&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;_________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TXA. đưa lên &lt;em&gt;“Web Giao lưu của những người cùng thời”&lt;/em&gt;:&lt;br /&gt;chiều thứ bảy (chủ nhật cũ), 18-02 HB7 (2007)&lt;br /&gt;[mùng 2 Tết Đinh hợi HB7].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;span style="font-size:85%;color:#ff0000;"&gt;Điều chỉnh cách trình bày hình thức trên trang web: 9 giờ 25', 19-02 HB7&lt;/span&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/6171194795727795119-7792612852052211977?l=tranxuanan-giaoluu-nnct-letiencong.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6171194795727795119/posts/default/7792612852052211977'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/6171194795727795119/posts/default/7792612852052211977'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://tranxuanan-giaoluu-nnct-letiencong.blogspot.com/2007/02/l-tin-cng-lun-vn-thc-s-hb7-2007-phn-1.html' title='LÊ TIẾN CÔNG - Luận văn thạc sĩ HB6 (2006) -- 1'/><author><name>Web. Giao luu cua nhung nguoi cung thoi</name><uri>http://www.blogger.com/profile/06222300160977315036</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='32' height='32' src='http://photos1.blogger.com/blogger2/3830/175921985080683/1600/1-But_TXA_tiengViet_lacay.jpg'/></author></entry></feed>
